Đậu xanh là vị thuốc giải độc tố hiệu quả


Đậu xanh là vị thuốc giải độc tố hiệu quả

Theo y học cổ truyền, đậu xanh có vị ngọt, tính mát với công năng thanh nhiệt, giải độc, mát gan. Đậu xanh là vị thuốc giải độc tố vô cùng hiệu quả mà bạn nên ăn thường ngày.



dauxanh
Đậu xanh có tên khoa học là vigna gadiata, là một loại ngũ cốc thường được dùng để nấu xôi, làm bánh, nấu chè, làm giá ăn… Mùa hè nắng nóng, đậu xanh thường dùng nhiều để nấu cháo, nấu chè ăn giải nhiệt.
 dauxanh1
Cháo đậu xanh nấu với thịt ếch băm là món ăn thơm ngon, bỗ dưỡng, giải nhiệt mùa hè
Theo y học cổ truyền, đậu xanh có vị ngọt, tính mát, vào các kinh tâm, vị, với công năng thanh nhiệt, tiêu thử, lợi thủy, giải độc, mát gan, thường được người dân sử dụng điều trị một số chứng bệnh thường gặp trong mùa hè như mụn trứng cá, ung nhọt…Vỏ đậu xanh có tác dụng trị sốt cao, phiền khát, hôn mê, co giật. Giá đậu xanh hỗ trợ trị viêm niêm mạc miệng, táo bón, viêm đường tiết niệu, tiểu buốt dắt, nước tiểu nóng đỏ, viêm niêm mạc lưỡi, miệng, táo bón, hoặc đi ngoài ra máu…
Dưới đây là một số tác dụng của đậu xanh:
- Chữa bí tiểu: Ăn canh đậu xanh. Nếu đau rát bỏng ở đường niệu, có thể dùng 500 g giá đậu xanh giã nát lấy nước, cho thêm đường vào uống.
Chữa dị ứng sơn (phù do mủ cây sơn): Đậu xanh sống 100 g, rửa sạch, ngâm vào nước trong 12 giờ, lấy ra giã nát thành dạng vữa, cho thêm 30 g nhãn đông đằng (thuốc Bắc) đã nghiền nát, trộn đều, đắp vào chỗ bị lở sơn.
Chữa rôm sảy, ngứa ngáy: Lấy 15 g bột đậu xanh, 30 g bột hoạt thạch nghiền vụn, trộn đều để xoa lên những chỗ bị rôm sảy thay cho phấn rôm.
Giải độc một số vị thuốc hoặc giải độc rượu: Dùng khoảng 20 – 30g đậu xanh sống, nghiền nhỏ, hòa vào nước sôi để nguội cho uống để người bệnh nôn chất độc ra. Đồng thời nấu cháo đậu xanh cho người bệnh ăn, vừa để giải độc, vừa để phục hồi tân dịch.
Trị sốt cao, phiền khát, hôn mê, co giật: Vỏ đậu xanh phối hợp với sinh địa, thạch cao, huyền sâm mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang tới khi các triệu chứng thuyên giảm.
Say nắng (xáp nắng): Người bệnh có biểu hiện nôn nao, chóng mặt và bị choáng, ngã, đôi khi bất tỉnh. Sau khi sơ cứu, lấy 30g đậu xanh sắc nước cho uống. Người bệnh sẽ mau chóng hồi phục trở lại.
- Trị sỏi đường tiết niệu: Đậu xanh 25g, kê nội kim, kim tiền thảo, hải kim sa, ngưu tất mỗi vị 6g. Tán bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 15g.
- Trị tiểu đường: Đậu xanh, đậu đỏ, ý dĩ mỗi thứ 40g nấu cháo ăn hằng ngày. Hoặc đậu xanh, tiểu mạch, gạo tẻ lượng bằng nhau, sao vàng, tán bột, mỗi ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 10 – 12g.
Trị ngộ độc (ăn dứa, ăn nấm…): Dùng 20 – 30g đậu xanh, phối hợp với cam thảo, kim ngân hoa, bồ công anh mỗi vị 12g, sắc uống. Có thể uống nhiều lần tới khi hết các triệu chứng.
- Trị tăng huyết áp, tăng mỡ máu, giải độc gan: Hằng ngày ăn 20 – 30g cháo đậu xanh.
Để giúp phòng ngừa say nắng, giảm khát, phòng trị chứng cao mỡ máu, bỗ dưỡng…, mỗi ngày có thể sử dụng 50-100g đậu xanh nấu nhừ với nếp hay thịt gà, thịt bò…hoặc nấu chè đậu xanh với đường để ăn phòng trị rối loạn tiêu hóa, tiểu tiện không thông, da nổi mẩn ngứa, trẻ em chảy máu cam do nóng, nhiệt…Ngoài ra, về mùa hè nắng nóng, trong dân gian thường rang đậu xanh cho vàng rồi nấu nước uống ngừa say nắng, giải độc khi uống nhầm thuốc (thủy ngân, thạch tín…), giải độc do ngộ độc thức ăn…
AloBacsi.vn
Theo Nguoinoitieng.info

Theo y học cổ truyền, đậu xanh có vị ngọt, tính mát với công năng thanh nhiệt, giải độc, mát gan. Đậu xanh là vị thuốc giải độc tố vô cùng hiệu quả mà bạn nên ăn thường ngày.



dauxanh
Đậu xanh có tên khoa học là vigna gadiata, là một loại ngũ cốc thường được dùng để nấu xôi, làm bánh, nấu chè, làm giá ăn… Mùa hè nắng nóng, đậu xanh thường dùng nhiều để nấu cháo, nấu chè ăn giải nhiệt.
 dauxanh1
Cháo đậu xanh nấu với thịt ếch băm là món ăn thơm ngon, bỗ dưỡng, giải nhiệt mùa hè
Theo y học cổ truyền, đậu xanh có vị ngọt, tính mát, vào các kinh tâm, vị, với công năng thanh nhiệt, tiêu thử, lợi thủy, giải độc, mát gan, thường được người dân sử dụng điều trị một số chứng bệnh thường gặp trong mùa hè như mụn trứng cá, ung nhọt…Vỏ đậu xanh có tác dụng trị sốt cao, phiền khát, hôn mê, co giật. Giá đậu xanh hỗ trợ trị viêm niêm mạc miệng, táo bón, viêm đường tiết niệu, tiểu buốt dắt, nước tiểu nóng đỏ, viêm niêm mạc lưỡi, miệng, táo bón, hoặc đi ngoài ra máu…
Dưới đây là một số tác dụng của đậu xanh:
- Chữa bí tiểu: Ăn canh đậu xanh. Nếu đau rát bỏng ở đường niệu, có thể dùng 500 g giá đậu xanh giã nát lấy nước, cho thêm đường vào uống.
Chữa dị ứng sơn (phù do mủ cây sơn): Đậu xanh sống 100 g, rửa sạch, ngâm vào nước trong 12 giờ, lấy ra giã nát thành dạng vữa, cho thêm 30 g nhãn đông đằng (thuốc Bắc) đã nghiền nát, trộn đều, đắp vào chỗ bị lở sơn.
Chữa rôm sảy, ngứa ngáy: Lấy 15 g bột đậu xanh, 30 g bột hoạt thạch nghiền vụn, trộn đều để xoa lên những chỗ bị rôm sảy thay cho phấn rôm.
Giải độc một số vị thuốc hoặc giải độc rượu: Dùng khoảng 20 – 30g đậu xanh sống, nghiền nhỏ, hòa vào nước sôi để nguội cho uống để người bệnh nôn chất độc ra. Đồng thời nấu cháo đậu xanh cho người bệnh ăn, vừa để giải độc, vừa để phục hồi tân dịch.
Trị sốt cao, phiền khát, hôn mê, co giật: Vỏ đậu xanh phối hợp với sinh địa, thạch cao, huyền sâm mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang tới khi các triệu chứng thuyên giảm.
Say nắng (xáp nắng): Người bệnh có biểu hiện nôn nao, chóng mặt và bị choáng, ngã, đôi khi bất tỉnh. Sau khi sơ cứu, lấy 30g đậu xanh sắc nước cho uống. Người bệnh sẽ mau chóng hồi phục trở lại.
- Trị sỏi đường tiết niệu: Đậu xanh 25g, kê nội kim, kim tiền thảo, hải kim sa, ngưu tất mỗi vị 6g. Tán bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 15g.
- Trị tiểu đường: Đậu xanh, đậu đỏ, ý dĩ mỗi thứ 40g nấu cháo ăn hằng ngày. Hoặc đậu xanh, tiểu mạch, gạo tẻ lượng bằng nhau, sao vàng, tán bột, mỗi ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 10 – 12g.
Trị ngộ độc (ăn dứa, ăn nấm…): Dùng 20 – 30g đậu xanh, phối hợp với cam thảo, kim ngân hoa, bồ công anh mỗi vị 12g, sắc uống. Có thể uống nhiều lần tới khi hết các triệu chứng.
- Trị tăng huyết áp, tăng mỡ máu, giải độc gan: Hằng ngày ăn 20 – 30g cháo đậu xanh.
Để giúp phòng ngừa say nắng, giảm khát, phòng trị chứng cao mỡ máu, bỗ dưỡng…, mỗi ngày có thể sử dụng 50-100g đậu xanh nấu nhừ với nếp hay thịt gà, thịt bò…hoặc nấu chè đậu xanh với đường để ăn phòng trị rối loạn tiêu hóa, tiểu tiện không thông, da nổi mẩn ngứa, trẻ em chảy máu cam do nóng, nhiệt…Ngoài ra, về mùa hè nắng nóng, trong dân gian thường rang đậu xanh cho vàng rồi nấu nước uống ngừa say nắng, giải độc khi uống nhầm thuốc (thủy ngân, thạch tín…), giải độc do ngộ độc thức ăn…
AloBacsi.vn
Theo Nguoinoitieng.info

Những điều chị em cần lưu ý khi "quan hệ" đường miệng


Những điều chị em cần lưu ý khi "quan hệ" đường miệng

Cho dù vợ chồng ban có chung thủy tuyệt đối thì kiểu "quan hệ" đường miệng cũng không nên được sử dụng quá thường xuyên.



Bác sĩ ơi, vợ chồng em đang "chiến tranh lạnh" chỉ vì bất đồng trong phòng ngủ. Chúng em kết hôn được gần 1 năm rồi, "chuyện vợ chồng" cũng thoải mái. Tuy nhiên, không ít lần anh ấy muốn 2 vợ chồng "làm mới" bằng cách "quan hệ" đường miệng. Nhưng em không đồng ý vì cảm thấy ghê ghê và rất mất vệ sinh. Chỉ vì chuyện này mà 2 vợ chồng giận nhau không ít lần.

Chồng em nói chỉ có em là lạc hậu chứ những chị em khác coi chuyện này là bình thường vì "quan hệ" đường miệng cũng an toàn. Em rất hoang mang, chỉ sợ mỗi một mình em có quan điểm như vậy. Bác sĩ cho em hỏi, nếu "quan hệ" đường miệng thì có an toàn không, cần lưu ý những gì? Và có chị em nào không thích kiểu "quan hệ" này như em không? Mong bác sĩ tư vấn giúp em. Em xin cảm ơn bác sĩ! 
(Mỹ Hạnh)

Bạn Mỹ Hạnh thân mến,

"Quan hệ" đường miệng (oral sex) là một hình thức quan hệ tình dục đang ngày càng trở nên phổ biến đối với các cặp đôi. Tuy nhiên, cho dù vợ chồng ban có chung thủy tuyệt đối thì kiểu "quan hệ" này cũng không nên được sử dụng quá thường xuyên.

Chính vì "quan hệ" đường miệng cũng là một hình thức quan hệ tình dục nên nó cũng có thể là con đường lây truyền các bệnh qua đường tình dục. Hiện có khoảng 20 chứng bệnh có thể lây qua đường tình dục: Lậu, giang mai, chlamydia, hạ cam mềm, mụn rộp sinh dục, viêm gan siêu vi B, HIV/AIDS… Và dù chỉ quan hệ bằng miệng, bạn vẫn có thể mắc cả 20 chứng bệnh nguy hiểm này.

Những điều chị em cần lưu ý khi "quan hệ" đường miệng 1
Cho dù vợ chồng ban có chung thủy tuyệt đối thì kiểu "quan hệ" đường miệng cũng không nên được sử dụng quá thường xuyên. Ảnh minh họa

Ngày nay, mặc dù rất nhiều người có quan điểm thoáng hơn về tình dục nhưng vẫn còn rất nhiều chị em e dè, ngại ngùng khi thử các kiểu "quan hệ" mới, kể cả "quan hệ" đường miệng. Vậy nên, bạn không phải là người duy nhất không thích cách "quan hệ" này. Sở dĩ nhiều chị em không ưa hình thức "quan hệ" này là vì họ cho rằng: "Vùng kín" không phải là nơi thơm tho, sạch sẽ nên họ rất ngại; sợ lây truyền bệnh tật; không có hứng thú hoặc sợ bị đánh giá là không nghiêm chỉnh...

Cũng không thể phủ nhận một điều rằng, "quan hệ" đường miệng cũng có ưu điểm là giúp cả hai giải tỏa khi không thể "quan hệ" theo kiểu truyền thống, nhất là khi người phụ nữ mang bầu.

Tuy nhiên, cách "quan hệ" này sẽ an toàn hơn rất nhiều nếu như thỉnh thoảng mới áp dụng, cả hai phải chung thủy tuyệt đối (chỉ có 1 đối tác tình dục), cả hai không có bệnh tật và phải vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi thực hiện.

Ngoài ra, nếu đang ở trong những trường hợp dưới đây, tốt nhất bạn nên ngừng "yêu" kiểu này:

- Bộ phận sinh dục hoặc cổ họng của bạn đang có những vết trầy xước nhỏ hoặc vết thương hở... vì như vậy sẽ càng làm tăng nguy cơ lây truyền các bệnh qua đường tình dục.

- Tránh quan hệ với bạn tình khi có dấu hiệu bất thường ở bộ phận sinh dục như rạn da, mụn nhọt, lở loét hoặc miệng và vùng xương chậu có những dấu hiệu không bình thường.

- Triệu chứng khi bị nhiễm bệnh tình dục ở miệng như: Phát ban, mẩn đỏ, lở loét… ở trong khoang miệng; gặp khó khăn trong việc nuốt; ho ra máu, khản giọng; có khối u trong má hoặc ở cổ...

Tốt nhất, bạn cần trang bị cho mình những kiến thức về quan hệ tình dục để có thể bảo vệ cho bản thân và "đối tác", phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục, ảnh hưởng đến sức khỏe sau này.

Nếu sau khi thực hành kiểu "quan hệ" này và thấy có các dấu hiệu lạ, đặc biệt ở khoang miệng thì bạn cần đến các cơ sở y tế để được khám và điều trị sớm.

Chúc vợ chồng bạn vui, khỏe!

AloBacsi.vn
Theo BS Hoa Hồng - Pháp luật Xã hội

Rau răm: Ngay cả phụ nữ cũng không nên ăn nhiều


Rau răm: Ngay cả phụ nữ cũng không nên ăn nhiều

Cây rau răm là loại gia vị rất quen thuộc ở các nước nhiệt đới ẩm ở khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Lào và Camphuchia.



Rau răm không chịu được hạn, ưa khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới vì rau răm thích ẩm, chịu nóng và có thể sống trong môi trường ngập nước. Rau dễ trồng đến mức tồn tại gần như hoang dại, bởi có khả năng mọc chồi gốc và chồi thân khỏe, ra hoa kết quả hằng năm trên những cây không bị cắt hay hái ngọn thường xuyên.
Cành và lá rau răm vừa là rau quen, vừa là dược liệu quý. Loại rau răm tươi, thân đỏ hơi ngả tím thường được dùng làm thuốc để trị bệnh.
Là loại cây thảo mọc hằng năm, có tuyến nhiều hay ít. Thân mọc trườn ở gốc và đâm rễ ở các mấu, rồi đứng lên cao 30 – 35cm. Lá mọc so le, hình bầu dục ngọn giáo, nhọn hay to ở chóp, cuống rất ngắn, mép lá và gân chính phủ đầy những lông nhọn khá dài; bẹ chìa ngắn ôm lấy thân, có nhiều gân song song mà phần lớn kéo dài ra thành những sợi dài.
Hoa họp thành bông dài, hẹp, mảnh, đơn độc hay xếp từng đôi hoặc thành từng chùm ít phân nhánh. Bộ phận dùng làm thuốc gồm cành và lá (Ramulus et Folium Polygoni Odorati), là loại thuốc quý được biết đến từ xa xưa.
 
Rau răm: Ngay cả phụ nữ cũng không nên ăn nhiều 1
Thành phần hoá học: Lá có tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm mát dễ chịu
 
Đông y cho rằng, rau răm có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm. Tác dụng của rau răm khi ăn sống thì ấm bụng, tiêu thực, kích thích tiêu hóa, sát trùng, tán hàn. Rau răm làm sáng mắt, ích trí, mạnh gân cốt. Nhờ có vị cay tính ấm, tiêu thực, kích thích tiêu hóa nên thường được dùng ăn cùng trứng vịt lộn, thịt bò, thịt gà, cháo trai, hến để giúp ngon miệng, làm ấm tỳ vị.
Tuy nhiên, cần lưu ý mỗi khi sử dụng rau răm mặc dù nó không độc, nhưng nếu dùng rau răm thường xuyên, với lượng rau răm nhiều sẽ làm giảm tình dục, giảm ham muốn cả đàn ông lẫn đàn bà, kém cường dương tráng khí, chân huyết sẽ khô đi, phụ nữ có thể trở nên vô kinh (mất chu kỳ kinh nguyệt).
Do vậy, người tu hành thường sử dụng rau răm để tránh những cơn bốc dương, an tâm tu hành cho đắc đạo là chuyện có thật diễn ra từ lâu trong đời sống nhà chùa.
Trong dân gian người ta còn dùng rau răm để gây sảy thai (trường hợp chậm kinh trên dưới 1 tuần tức 5 – 9 ngày, đạt tỷ lệ tới 60 – 80%): Dùng rau răm tươi 500g, loại thân đỏ hơi ngả sang màu tím (rau răm thân xanh trắng không có tác dụng gây sảy thai).
Chỉ lấy thân và lá non, bỏ rễ và lá già, rửa sạch, để ráo nước. Giã, ép nát, vắt lấy nước cốt được khoảng 250ml (1 xị). Uống một lần duy nhất vào buổi tối trước khi đi ngủ. Nếu có kết quả thì ngay trong đêm đó hoặc sáng hôm sau, phôi thai tự trục ra ngoài.
Bởi vậy khi có thai không được ăn nhiều rau răm. Những người máu nóng, ốm gầy và phụ nữ khi đang hành kinh cũng không được dùng rau răm.
AloBacsi.vn
Theo Nông nghiệp Việt Nam