Tẩy giun đũa bằng hạt trâm bầu


Tẩy giun đũa bằng hạt trâm bầu

Dịp Tết vừa qua, tôi về quê chồng ở miền Tây Nam Bộ, thấy người dân ở đây dùng hạt của trái cây trâm bầu trị giun đũa.

Trị giun đũa như vậy có thực sự hiệu quả không?
 
(Huỳnh Thị Thuyên - Biên Hòa, Đồng Nai)
 
Lương y Hoàng Châu trả lời:
 
Cây trâm bầu còn có tên là chưng bầu, chân bầu, tim bầu, tên khoa học là Combretum quadrangulare Kuz.
 
Theo kinh nghiệm dân gian của nhiều nơi thì hạt, cành non và cả chất nhầy ở vỏ của loại cây này có tác dụng tẩy giun với kết quả rất tốt và không độc. Ngoài ra, nó còn được dùng để chữa đau bụng, tiêu chảy khi phối hợp với lá mơ tam thể. Hạt cây trâm bầu có nhiều tinh dầu (12%), tanan, acid axalic, calci và các acid béo palmitic, linoleic; vỏ chứa nhiều tanan, flavonoit.
Muốn sử dụng hạt trâm bầu để trị giun thì dùng dao bén tách vỏ trái trâm bầu già, tươi, có ruột dày và còn mềm, lấy hạt bỏ vỏ, nhét vào miếng nhỏ chuối chín (có thể nướng qua hạt cho thơm) để cho trẻ từ 2-5 tuổi nhai và nuốt một lần vào buổi sáng; trẻ 6-12 tuổi thì từ 6-12 hạt; người lớn 12-20 hạt. Liều dùng liên tục trong 3 ngày.
Tuy nhiên, chị cũng cần lưu ý là hiện nay, đã có nhiều loại thuốc trị giun công nghiệp sử dụng rất hiệu quả.
Theo Người lao động

Cảnh giác với các tai biến do giác hơi


Cảnh giác với các tai biến do giác hơi

Đã từng xảy ra không ít trường hợp bị tai biến giác hơi, khiến người được giác hơi lâm vào tình cảnh “tiền mất tật mang”.

Trong những năm gần đây, cùng với các biện pháp trị liệu giàu tính dân gian khác của y học cổ truyền, liệu pháp giác có xu hướng ngày càng phát triển. Người ta dễ dàng thực hiện giác hơi ở mọi nơi, mọi chỗ, kể cả bến xe, nhà ga, vỉa hè, bãi biển... với phương tiện đơn giản chỉ là một manh chiếu và mươi ống giác.
Từ công dụng chính trị liệu, giác hơi cũng dần được sử dụng như một phương pháp thư giãn, thậm chí có người còn coi đây như một trò đùa, nghe bạn bè rủ rê thì cũng tham gia cho vui. Điều này hết sức nguy hiểm!
Phải đúng vị trí, tư thế
Nhìn chung, liệu pháp giác chỉ nên thực hiện ở những vị trí có cơ bắp đầy đặn và lớp mỡ dưới da phong phú. Không giác ở nơi có mạch máu đi nông, chỗ tim đập, vùng da quá non và có sẹo, mắt, mũi, môi, đầu vú, vùng da nhão có nhiều nếp nhăn. Chỗ giác lần trước nếu vẫn còn dấu vết thì không giác đúng chỗ đó. Không nên giác hơi ngoài trời và ở những nơi quá nóng hoặc quá lạnh để phòng ngừa cảm nhiễm phong hàn, phong nhiệt. Tuyệt đối không giác hơi ngoài bãi biển, trong phòng chạy điều hoà đặt nhiệt độ quá thấp. Tốt nhất nên tiến hành ở trong phòng có nhiệt độ vừa phải và không có gió lùa.
Những người không nên giác hơi
Không dùng, hay nói đúng hơn là cấm dùng liệu pháp giác trong các trường hợp: mắc bệnh tim, thận, phổi vừa hoặc nặng, bệnh ưa chảy máu, dễ xuất huyết dưới da, suy giảm tiểu cầu, bệnh máu trắng, phù toàn thân, bệnh tâm thần giai đoạn tiến triển, suy nhược thần kinh và suy nhược cơ thể quá mức, mắc bệnh da toàn thân, giãn tĩnh mạch nơi giác, co giật hoặc bị chuột rút, động kinh, phụ nữ đang hành kinh, vùng thắt lưng cùng, vùng bụng dưới và vùng vú thai phụ, da mất tính đàn hồi, người đang trong tình trạng say rượu, quá mệt mỏi, quá no hoặc quá đói.
Ngoài ra cũng cần chọn tư thế người bệnh phù hợp, sao cho vị trí giác được bộc lộ rõ, thuận lợi để giác và bệnh nhân cảm thấy thoải mái. Với những người lần đầu giác hơi, người thuộc thể loại thần kinh yếu, dễ căng thẳng, người già và suy nhược... nên chọn tư thế nằm. Khi giác cần dùng ống giác nhỏ, thủ thuật tiến hành phải nhẹ nhàng, chú ý giải thích và động viên để người bệnh yên tâm.
Cảnh giác các tai biến
Trong khi giác, kỹ thuật viên cần chú ý hỏi cảm giác của người bệnh và chú ý quan sát phản ứng tại chỗ và toàn thân của họ. Về phần mình, người bệnh có thể cảm thấy chỗ giác nóng, căng, buồn, ấm áp dễ chịu và buồn ngủ, đó là hiện tượng bình thường, đông y gọi là đắc khí.
Nếu thấy xuất hiện các triệu chứng như choáng váng, hoa mắt, đau đầu, buồn nôn, ớn lạnh, vã mồ hôi nhiều... thì cần báo cho kỹ thuật viên ngay để xử trí kịp thời. Sau khi giác, người bệnh cần nghỉ ngơi trong một thời gian nhất định, tuỳ bệnh lý. Tránh hoạt động mạnh. Không nên tắm rửa ngay bằng nước quá nóng hoặc quá lạnh. Không uống rượu bia hoặc sử dụng các chất kích thích khác.
Nếu thấy xuất hiện các triệu chứng bất thường thì cần kịp thời báo cho nhân viên y tế để có biện pháp xử lý thích hợp.
Theo ThS.BS Hoàng Khánh Toàn - Sài Gòn tiếp thị

Rau ngót chữa đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em


Rau ngót chữa đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em

Không chỉ là một món ăn thông thường, rau ngót còn có tác dụng chữa dị ứng, tưa lưỡi ở trẻ sơ sinh, chứng đái dầm ở trẻ em...

Theo Đông y, lá rau ngót có vị bùi ngọt, tính mát, rễ vị hơi ngăm đắng, cả lá và rễ đều có tác dụng mát huyết, hoạt huyết, lợi tiểu, giải độc.
 
Lá rau ngót chữa ban sởi, ho, viêm phổi, sốt cao, đái rắt, tiêu độc. Rễ còn có tác dụng lợi tiểu, thông huyết, kích thích tử cung co bóp. Khi dùng làm thuốc thường chọn những cây sống 2 năm trở lên.
 
Theo nghiên cứu, trong 100g rau ngót có chứa tới 0,08g chất béo, 9g đường, 503mg kali, 15,7mg sắt, 13,5mg mangan, 0,45mg đồng, 85mg vitamin C, 0,033mg B1, 0,88mg B2... Ngoài ra, rau ngót rất giàu đạm nên được khuyên dùng thay thế đạm động vật nhằm hạn chế những rối loạn chuyển hóa can xi gây loãng xương và sỏi thận. Với những thành phần trên, rau ngót được khuyên dùng cho người muốn giảm cân và người bị tăng huyết áp. 
Rau ngót - vị thuốc chữa tưa lưỡi, chứng đái dầm trẻ em...
Rau ngót là loại rau lành và bổ dưỡng. Không chỉ là một món ăn thông thường, rau ngót còn có tác dụng chữa dị ứng, tưa lưỡi ở trẻ sơ sinh, chữa đổ mồ hôi trộm, chứng đái dầm ở trẻ em... Xin giới thiệu một số bài thuốc có sử dụng rau ngót:
- Với chứng đái dầm ở trẻ em: 40g rau ngót tươi rửa sạch, giã nát, sau đó cho một ít nước đun sôi để nguội vào rau ngót đã giã, rồi khuấy đều, để lắng và gạn lấy nước uống. Phần nước gạn được chia làm hai lần để uống, mỗi lần uống cách nhau khoảng 10 phút.
- Đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em: lấy 30g rau ngót, 30g bầu đất, 1 quả bầu dục lợn rồi nấu canh cho trẻ ăn. Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng lại có tác dụng chữa bệnh, mà nó còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ chán ăn. Đặc biệt, canh rau ngót nấu với thịt lợn nạc hoặc giò sống... không chỉ tốt cho trẻ em mà còn rất tốt cho cả người lớn bởi nó là một vị thuốc bổ, giúp tăng cường sức khoẻ với người mới ốm dậy, người già yếu hoặc phụ nữ sau khi sinh. Nhất là với phụ nữ sắp sinh, hàng ngày nếu được ăn canh rau ngót sẽ giúp tăng sức cho các bắp thịt, giúp việc sinh nở dễ dàng hơn.
- Chữa tưa lưỡi: lấy 10g lá tươi, rửa sạch, giã nhỏ vắt lấy nước, thấm vào gạc mềm, sạch, đánh trên lưỡi (tưa trắng), lợi, vòm miệng trẻ em. Đánh nhẹ cho tới khi hết tưa trắng.
- Đau mắt đỏ, nhức nhối khó chịu: lá rau ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g. Tất cả đều dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày.
- Bàn chân sưng nhức: lá rau ngót giã, cho thêm nước muối pha nhạt, sau đó đắp vào chỗ chân sưng nhức.
Theo Sức khỏe & Đời sống