Cách dùng nhân sâm phòng chống bệnh tiểu đường


Mươi năm gần đây, người ta biết tác dụng làm hạ đường huyết của nhân sâm thông qua kết quả của nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng.


Trong khoảng mươi năm gần đây, người ta biết tác dụng làm hạ đường huyết của nhân sâm thông qua kết quả của nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. 
Nhưng, cách dùng nhân sâm cụ thể như thế nào thì không phải ai cũng biết tường tận. 
Theo các nhà y học Nhật Bản, đơn giản nhất là mỗi ngày nên dùng 2,7g nhân sâm sắc hoặc hãm nước sôi uống.
Tuy nhiên, theo quan điểm của y học cổ truyền, vì mỗi người bệnh tiểu đường có bệnh cảnh lâm sàng và thuộc các thể bệnh khác nhau, cho nên việc dùng nhân sâm phải hết sức linh hoạt và cần khéo léo phối hợp với một số vị thuốc khác nhằm đạt được hiệu quả trị liệu cao hơn. 
Trong bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu với độc giả một số cách dùng cụ thể.
Cây và củ nhân sâm.
Cây và củ nhân sâm.
Cách 1: 
Nhân sâm 3g, mạch môn 9g, qua lâu nhân 3g, tri mẫu 3g, cam thảo sao 3g, sinh địa 3g, cát căn 3g, bạch linh 3g. Tất cả đem ngâm nước 1 giờ rồi sắc kỹ lấy nước cốt, chia uống 2 lần trong ngày với nước ấm. Công dụng: thanh vị nhuận phế, sinh tân ích khí. Dùng cho người bị tiểu đường có biểu hiện khát nhiều, uống nhiều, hay có cảm giác khó thở, ngực bụng bồn chồn và nóng bức không yên.
Cách 2: 
Nhân sâm 4,5g, thiên môn 9g, mạch môn 9g, thiên hoa phấn 9g, hoàng cầm 6g, tri mẫu 6g, lá sen 6g, cam thảo sao 3g. Tất cả đem ngâm nước nửa giờ rồi sắc uống. Cũng có thể hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: dưỡng âm thanh nhiệt, ích khí sinh tân. Dùng cho người bị tiểu đường có biểu hiện họng khô, miệng khát, uống nhiều, tiểu tiện nhiều, tinh thần mỏi mệt, hay có cảm giác khó thở, đại tiện táo.
Cách 3: 
Nhân sâm 6g, mạch môn 15g, ngũ vị tử 10g. Tất cả sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15-20 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: ích khí sinh tân, liễm âm chỉ hãn. Dùng cho người bị tiểu đường có biểu hiện mệt mỏi như mất sức, khó thở, hồi hộp trống ngực, họng khô miệng khát, hay vã mồ hôi, thường kèm theo bệnh hô hấp mạn tính với triệu chứng ho khan, ít hoặc không có đờm. Y học cổ truyền gọi là thể bệnh khí âm lưỡng hư.
Cách 4: 
Nhân sâm 1,5g, sinh thạch cao 30g, tri mẫu 10g, cam thảo sống 6g. Tất cả ngâm nước 30 phút rồi sắc uống. Công dụng: thanh vị tả hỏa. Dùng cho người bị tiểu đường có biểu hiện khát nhiều, uống nhiều, tiểu tiện nhiều, miệng khô lưỡi khô, hình thể gầy gò, đại tiện táo kết. Y học cổ truyền gọi là thể bệnh vị nhiệt thương tân.
Sử dụng nhân sâm theo các phương thức nêu trên cho bệnh nhân tiểu đường ở tất cả các giai đoạn đều có lợi. Nồng độ đường trong máu sẽ mau trở lại mức bình thường ở giai đoạn sớm, giảm một cách đáng kể ở giai đoạn sau và  duy trì ổn định dài hơn khi bệnh đã hồi phục.
Hiện nay, nhân sâm không còn là thứ thuốc chỉ dành cho người giàu sang quyền quý như xưa, cho nên việc tìm mua và sử dụng sâm để chữa bệnh rất thuận tiện. Tuy nhiên, cần chú ý kẻo mua phải nhân sâm “rởm” hoặc kém phẩm chất. Tốt nhất nên chọn mua ở các cơ sở đông dược có giấy phép hành nghề và có uy tín.   

Theo Sức khỏe đời sống

Các món trị chuột rút


Các vị cấu thành trong phương thuốc của đông y có cơ chế phòng ngừa chuột rút giống như tân dược.



Chuột rút (còn gọi là vọp bẻ) gây ra cảm giác đau bởi sự co rút, thường là co cơ, có thể do trời lạnh hay hoạt động quá mức, sức khỏe giảm sút hoặc bị ngộ độc.
Nhìn chung, chứng chuột rút thường không có nguyên nhân rõ ràng. Các nguyên nhân có thể gặp là thiếu nước, ôxy và khoáng chất trong cơ thể như canxi, magiê, natri kali, kẽm hay tình trạng suy giãn tĩnh mạch chi dưới bởi chúng là dưỡng chất cũng là chất xúc tác giúp hơn 300 enzym hoạt hóa chức năng duy trì và phát triển bền vững cơ thể; phòng chống rối loạn nhịp tim, run cơ, co giật, trầm cảm, chuột rút… Song điều này còn có thể xảy ra sau khi tập thể dục, lọc thận, đổ mồ hôi quá nhiều mà không được bù đủ nước và muối, dùng thuốc lợi tiểu, đang có thai...
Đông y cho rằng chứng chuột rút là do lạnh gây co cứng và khí huyết ứ trệ. Bởi vậy, thường dùng phương thuốc thư cân hoạt huyết  gồm 11 vị (phòng phong, kinh giới, độc hoạt, đương quy, tục đoạn, thanh bì, hồng hoa, chỉ xác, ngũ gia bì, đỗ trọng, ngưu tất), gia giảm từng vị từ 6 - 12 g. Sắc uống, mỗi đợt 5 ngày. Xét về các vị cấu thành trong phương thuốc trên có cơ chế phòng ngừa chuột rút giống như tân dược.
Nguyên nhân gây chuột rút có thể do thiếu nước, ôxy, một số khoáng chất trong cơ thể hay tình trạng suy giãn tĩnh mạch chi dưới...Ảnh: HỒNG THÚY
Nguyên nhân gây chuột rút có thể do thiếu nước, ôxy, một số khoáng chất trong cơ thể hay tình trạng suy giãn tĩnh mạch chi dưới...Ảnh: HỒNG THÚY
Đặc biệt hơn là có thể sử dụng các món ăn bài thuốc nhằm bổ sung những khoáng chất như canxi, magiê, natri, kali, kẽm, vitamin B6… thường là những yếu tố khi cơ thể thiếu dẫn đến chứng bệnh này. Dưới đây xin giới thiệu những món ăn ấy:
- Cháo hến: Hến sông 1,5 kg, gạo tẻ 100 g, gia vị chanh, ớt.
Cách làm: Hến luộc chín, lấy nước và thịt, bỏ vỏ. Nước luộc hến cùng gạo nấu thành cháo, thịt hến trộn gia vị, sau đó phi hành mỡ thơm, cho thịt hến vào cùng gia vị mắm, muối xào chín. Chờ khi cháo chín kỹ, cho món xào này vào trộn đều là được, thêm chanh, ớt, rau thơm; ăn nóng. Một tuần dùng 3-4 lần. 
Công dụng: Thịt hến tính mát, tác dụng bổ âm, cung cấp một số vi lượng cần thiết cho cơ thể, chủ yếu là canxi và kẽm. Tái lập và hoàn thiện quá trình dẫn truyền thần kinh, ổn định chức năng cơ bắp, từ đó có giá trị hữu hiệu phòng chống co cơ, chuột rút.
- Cháo thuốc với chân gà: Chân gà 6 cái, gạo tẻ 100 g, hoàng kỳ, đương quy, phòng sâm mỗi vị 15 g; gia vị vừa đủ.
Cách làm: Chân gà nướng vàng, chín thơm là được. Hoàng kỳ, đương quy, phòng sâm cho vào ấm đổ nước sắc cho sôi kỹ, lọc lấy nước, bỏ bã. Gạo, nước thuốc, chân gà hầm cùng nhau thành cháo cho chín kỹ, nêm gia vị, hành hoa rồi ăn nóng. 
Công dụng: Bổ khí huyết, tăng sức bền và chức năng hoạt động của cơ bắp, phù hợp với người sức yếu, hay bị run giật, co cơ, chuột rút, ăn ít, sức lao động giảm sút.
- Dùng cây việt quất hoặc cây nham lê: Sử dụng lá. Uống 3 ly nhỏ mỗi ngày.
- Đập dập cây tầm ma, hạt lanh, cây nữ lang và chanh: Sau đó thêm nửa lít nước vào hỗn hợp thảo mộc trên. Tiếp tục đun sôi từ 2- 5 phút. Thêm mật ong vào hỗn hợp nước này trước khi uống.
- Cây húng tây: Sử dụng hoa rồi đem sắc uống 4 ly nhỏ mỗi ngày.
- Cây thìa là: Sử dụng quả và hạt rồi sắc lấy nước uống mỗi ngày 4  ly nhỏ.
Nếu chuột rút ở cơ bắp có thể dùng các loại sau để mát-xa sẽ nhanh chóng thoát khỏi chứng co rút.
- Dầu ô liu: Mát-xa phần cơ bắp bị ảnh hưởng bởi chuột rút với dầu ôliu.
- Cúc La Mã (cúc làm thuốc), hoa oải hương và hương thảo: Mát-xa nhẹ nhàng vùng đau với các loại thảo mộc này đã được pha loãng trong một chút dầu ôliu (điều này giúp thư giãn và kích thích tuần hoàn).
- Dùng giấm táo: Khi bị một cơn co cứng đau đớn, nhanh chóng ngâm một bông gòn trong giấm táo. Lấy bông gòn ra vắt rồi đặt trên các vùng bị ảnh hưởng do chuột rút. Điều này sẽ giúp bạn nhanh chóng giảm sự khó chịu.
Lưu ý: Nếu da quá mỏng và nhạy cảm, hãy giảm bớt thời gian nén bông gòn thấm giấm táo. 

Theo Người lao động

10 phương thuốc đắp rốn chữa bất lực


Đây là phương pháp chữa bất lực độc đáo với tên gọi “dược tề liệu pháp”, có lịch sử lâu đời. Nhiều phương thuốc chỉ đắp 2 – 3 lần là đạt hiệu quả.



Đây là phương pháp chữa bệnh độc đáo với tên gọi “dược tề liệu pháp”, có lịch sử lâu đời, được ghi lại sớm nhất trong y thư kinh điển Nội kinh Tố vấn rồi sau đó được bàn luận và phát triển trong các sách thuốc nổi tiếng khác như Thiên kim yếu phương, Ngoại đài bí yếu… để chữa nhiều mặt bệnh khác nhau, trong đó có rối loạn dương cương. Nhiều phương thuốc chỉ đắp 2 – 3 lần là đạt hiệu quả.
Phương 1: Phụ tử 6g, xuyên ô 6g, thiên hùng 6g, quế tâm 60g, quế chi 60g, tế tân 60g, can khương 60g, xuyên tiêu 60g, tất cả thái vụn ngâm trong dầu vừng (mùa xuân 5 ngày, mùa hạ 3 ngày, mùa thu 7 ngày, mùa đông 10 ngày), sau đó đun sôi bỏ bã rồi lại đun sôi tiếp, từ từ bỏ hoàng đơn vào, quấy đều thành dạng cao, đựng trong lọ kín dùng dần. 

Khi dùng, quết cao thuốc lên giấy bản hoặc vải rồi dán vào rốn hoặc đan điền (tương ứng với huyệt huyết hải, ở thẳng dưới rốn 1,5 tấc). Công dụng: Ôn thận noãn tỳ, bổ dương cường tráng, dùng để chữa bất lực thuộc thể Thận dương hư suy, ngoài ra còn chữa chứng di tinh, tinh lạnh và muộn con.
Phương 2: Tiểu hồi hương và bào khương lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, gia thêm một chút muối ăn rồi hòa với một chút sữa người hoặc mật ong hoặc tiết gà thành dạng cao, đắp vào rốn, dùng băng cố định, 5 ngày thay thuốc 1 lần. Công dụng: Bổ mệnh môn hỏa, ôn thận trợ dương, làm ấm tỳ vị, chuyên dùng để chữa chứng liệt dương.

Phương 3: Hành tươi 1 củ, giã nát, đăp vào rốn rồi dùng băng cố định bên ngoài, mỗi ngày sáng và tối thay thuốc một lần. Công dụng: Ôn dương tán hàn, lưu thông kinh lạc, chuyên trị liệt dương do hàn tà xâm nhập.
Phương 4 : Phụ tử 1 củ to, khoét lỗ, ngũ vị tử 6g, hoàng kỳ sao 6g, lưu hoàng 6g, xuyên sơn giáp 2 miếng, tất cả sao khô tán bột rồi nhét vào trong củ phụ tử, đem đun với 250ml rượu trắng bằng lửa nhỏ cho đến khi rượu cạn thì lấy ra nghiền nát thành dạng cao. 

Trước tiên cho 0,3g xạ hương vào rốn rồi đắp cao thuốc lên trên, dùng băng cố định lại, 3 ngày thay thuốc 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Công dụng: Ôn bổ mệnh môn hỏa, trừ hàn ôn dương, bổ khí thông mạch, hoạt huyết thu liễm, chuyên dùng để chữa liệt dương, thông thường sau 3 lần là có hiệu quả.
Phương 5: Dâm dương hoắc 52g, sà sàng tử 36g, ngô công 15g, băng phiến 9g, tất cả sấy khô tán bột, trộn với nước ép từ hành củ tươi thành dạng cao rồi đắp vào rốn, kế đó dùng ngón tay cái hai bên thay nhau ấn từ từ lên trên, mỗi lần từ 10 - 20 phút, mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng khi thức giấc và buổi tối trước khi đi ngủ. Công dụng: Ôn thận tráng dương, khu phong trừ thấp, chuyên dùng để chữa chứng dương vật không cương hoặc có cương nhưng không cứng, xuất tinh sớm, hoạt tinh, di mộng tinh…
Phương 6: Mộc miết tử, tế tân, xuyên ô, thảo ô, phụ tử chế, thiềm thừ, hùng hoàng, sà sàng tử, nhục thung dung, kỷ tử, địa cốt bì, mạch môn, mộc hương, sinh địa, tỏa dương, ba kích, phòng phong, nhân sâm, bạch linh, đinh hương, quế nhục, một dược, đậu khấu mỗi thứ 5g, cẩu cốt 100g, hải mã 60g, long cốt 30g, thạch yến tử 30g, vân mẫu thạch 30g. Tất cả đem sắc kỹ, bỏ bã rồi cô thành dạng cao đặc, khi dùng phết cao thuốc lên giấy bản hoặc vải mỏng dán vào rốn. Công dụng: Làm ấm hạ nguyên hư lãnh, khiến cho dương vật cương cứng.

Phương 7
: Đại phong tử, lưu hoàng, dương khởi thạch, sà sàng tử, hương phụ, phỉ tử mỗi thứ 3g, dế mèn 1 con, xạ hương 3g. Tất cả sấy khô tán bột, luyện với mật ong làm hoàn, mỗi ngày dùng 1 viên đặt vào rốn, cố định bằng băng dính. Phương thang này chuyên dùng để chữa dương nuy, làm cho tăng độ cương cứng của dương vật và phòng chống xuất tinh sớm.
Phương 8: Lưu hoàng 30g, bạch tật lê 30g, tế tân 30g, ngô thù du 15g, xuyên sơn giáp 10g, dương khởi thạch 30g, băng phiến 5g, tất cả sấy khô tán bột, mỗi lần lấy bột thuốc 3g hòa với nước cơm thành dạng cao rồi đắp lên rốn, cố định bằng băng dính, hai ngày thay thuốc một lần. Thông thường sau 15 ngày là có chuyển biến, sau 2 tháng là có hiệu quả tốt.
Phương 9: Lưu hoàng, bạch thược, bạch phàn, cam thảo và phỉ tử lượng bằng nhau, tất cả sấy khô tán bột, hòa với rượu trắng thành dạng cao rồi đắp lên rốn, dùng băng cố định bên ngoài, mỗi buổi sáng khi thức dậy và buổi tối trước khi đi ngủ dùng túi kín đựng nước nóng chườm lên bên trên rốn trong 20 - 30 phút, 15 ngày là một liệu trình. Công dụng: Ôn bổ mệnh môn hỏa, cường thận tráng dương và thu liễm, chuyên dùng để chữa chứng liệt dương.
Phương 10: Ngô thù du 5g, tế tân 1g, quế chi 1g, tất cả sấy khô tán bột. Trước tiên, trải một mảnh gạc mỏng lên trên rốn rồi đổ bột thuốc, lại trải tiếp một lớp gạc nữa rồi dùng băng cố định bên ngoài. Mỗi tối trước khi đi ngủ dùng ngón tay cái day ấn rốn trong 5 - 10 phút, 2 hoặc 3 ngày thay thuốc một lần. Công dụng: Tán hàn thông lạc, cường dương cố tinh, chuyên dùng để chữa liệt dương, thông thường sau 15 ngày sẽ có hiệu quả rõ rệt.

Theo ThS.BS Hoàng Khánh Toàn  - Kiến thứ