Món ăn có ích khi viêm phế quản mãn tính


Xông hơi nước nóng có tinh dầu thơm như lá chanh, lá khuynh diệp, lá bạc hà, lá tía tô, lá bưởi…, làm long đàm, phục hồi lưu thông không khí.



Viêm phế quản mãn tính là chứng viêm mãn tính của niêm mạc phế quản và các tổ chức xung quanh phế quản, có nguyên nhân chủ yếu là do nhiễm vi khuẩn, virus, hoặc do sự kích thích của các yếu tố vật lý, hóa học như mùi hóa chất, khói nhà máy, xăng dầu, khói thuốc lá… Bệnh kéo dài lâu ngày làm suy giảm khả năng đề kháng của cơ thể. Cũng có thể là do một phản ứng quá mẫn gây nên.
Viêm phế quản mãn tính thường gặp ở người cao tuổi. Triệu chứng thường gặp là ho có nhiều đàm, ho kéo dài, không sốt, khó thở khi gắng sức. Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác, tuy không thường xuyên, như gầy sút, xanh xao, buồn ngủ lơ mơ suốt ngày, tim đập nhanh...
Nếu bệnh nhẹ, thường vào sáng sớm hoặc về đêm ho có đàm nhiều, đàm có thể trắng nhầy hoặc loãng, có bọt. Bệnh thường nặng lên vào mùa lạnh và giảm nhẹ khi thời tiết ấm áp.
Nếu bệnh nặng, bệnh nhân ho quanh năm, khạc nhiều đàm, khó thở lúc thời tiêt lạnh, khí hậu thay đổi, hoặc khi hít phải khói bụi, mùi hóa chất. Có lúc ho kèm theo sốt gai rét, nhức đầu, chảy nước mũi.
Bệnh kéo dài, bội nhiễm thì đàm vàng đặc, có sợi huyết, cơn khó thở, có thể dẫn tới tâm phế mãn vào mùa lạnh ẩm, suy tim, suy hô hấp, phế khí thũng.
Cách xử trí trường hợp bị viêm phế quản mãn tính là chống các ổ vi khuẩn tiềm tàng ở họng, răng, hàm, hốc mũi, chống nhiễm khuẩn mới (bội nhiễm).
Xông hơi nước nóng có tinh dầu thơm như lá khuynh diệp rất tốt cho hô hấp. Ảnh: duocthao.
Xông hơi nước nóng có tinh dầu thơm như lá khuynh diệp rất tốt cho hô hấp. Ảnh: duocthao
- Xông hơi nước nóng có tinh dầu thơm như lá chanh, lá khuynh diệp, lá bạc hà, lá tía tô, lá bưởi…, làm long đàm, phục hồi lưu thông không khí; chống khó thở dẫn tới nguy cơ suy hô hấp.
- Tránh nơi có khói thuốc lá và các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí như khói, bụi, không khí bẩn. Hạn chế uống rượu.
- Ðiều trị sớm và triệt để các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp.
Một số món ăn, bài thuốc có ích cho người bệnh viêm phế quản mãn tính
Canh phổi heo, hạnh nhân
Phổi heo1 cái, vỏ rễ cây dâu tằm 40g, hạnh nhân 30g, gia vị gồm muối, tiêu, bột nêm hoặc bột ngọt, nước mắm.
Phổi heo làm sạch, thái miếng nhỏ, vỏ rễ dâu cạo bỏ lớp ngoài, lấy phần trắng ở trong (gọi là tang bạch bì), rửa sạch. Hai thứ cho vào nồi cùng với hạnh nhân và lượng nước thích hợp, đem hầm chín nhừ, nêm gia vị vừa ăn.
Chia 2 lần ăn trong ngày. Thích hợp với người bị viêm phế quản mãn tính có sốt, ho nhiều, khạc đờm nhầy mủ.
Nước lê, hạnh nhân
Lê 1 trái, lá dâu tằm 10g, hạnh nhân 10g, đường phèn 20g.
Lê gọt vỏ, xắt nhỏ, hạnh nhân và đường phèn giã nát. Tất cả cho vào tô lớn, hãm với nước sôi, đây kín, sau 20 phút thì dùng được. Uống thay trà trong ngày.
Thích hợp với người bị viêm phế quản mãn tính trong thời kỳ tiến triển.
Cháo lê, bí đao
Lê 6 trái, gạo nếp, bí đao, mỗi thứ 100g, đường phèn 180g.
Gạo nếp vo sạch, cho vào nồi nấu thành cơm nếp. Lê gọt vỏ, cắt một đoạn ngang cuống làm nắp, dùng dao nhỏ khoét hết hạt lê ra, đem ngâm trong nước để phòng đổi màu. Lê cho vào nước sôi trụng một lát rồi vớt ra, ngâm qua nước nguội rồi để vào bát.
Bí đao gọt vỏ, xắt bằng hạt đậu nành. Lấy cơm nếp, bí đao, đường phèn trộn đều rồi nhét vào trong ruột quả lê. Lại cho vào bát lớn, bịt kín, bỏ vào nồi đem chưng khoảng 60 phút đến khi lê chín nhừ là được.
Cho vào nồi khoảng 300g nước sạch, nấu trên lửa lớn cho sôi, cho đường phèn còn thừa vào nấu chảy thành nước đặc, khi lê chưng xong lấy ra xếp lên dĩa, rưới nước đường lên trên.
Mỗi lần ăn 1 quả, có thể ăn riêng. Thích hợp với người bị viêm phế quản mãn tính, ho ra máu. Chú ý người tỳ vị hư hàn và có thấp đàm kỵ dùng.
Cao ô mai, mật ong
Ô mai 500g, mật ong 1000g.
Ô mai bỏ tạp chất, rửa sạch, phơi khô. Sau đó vẩy nước sạch lên cho ô mai ướt đều, đập nát lấy phần thịt, dùng nước rửa sạch. Cho ô mai nhục vào nồi, đổ nước sôi vào ngâm 1 giờ.
Bắc nồi ô mai lên trên lửa nhỏ, đun 2 giờ, lọc lấy nước, làm như thế 3 lần rồi hợp nước ô mai của 3 lần lại với nhau. Cho nước ấy vào nồi, dùng lửa nhỏ đun đến khi đặc lại thì cho mật ong vào, trộn đều, cô lại thành cao, để nguội cho vào lọ sạch, bảo quản nơi khô ráo.
Mỗi ngày uống vào lúc bụng đói. Buổi sáng, tối, mỗi lần 1-2 muỗng cà phê.
Thích hợp với các chứng ho lâu ngày, hư nhiệt phiền khát, sốt rét lâu ngày, đi tả kéo dài, kiết lỵ, đại tiện, tiểu ra máu, băng huyết, giun sán. 
Chú ý người bị thực tà kỵ dùng.
Ô mai. Ảnh: myopera.
Ô mai kết hợp cùng mật ong thích hợp với các chứng ho lâu ngày, hư nhiệt phiền khát, sốt rét lâu ngày, đi tả kéo dài. Ảnh: myopera
Canh thịt heo, khoai mài
Khoai mài 100g, thịt heo 250g, sữa bò 200ml, gừng tươi xắt sợi 15g, muối 5g, dầu ăn, bột ngọt.
Thịt heo rửa sạch, xắt miếng vừa ăn, cùng cho vào nồi với gừng, khoai mài (đã rửa sạch, cắt vụn), đổ nước nấu sôi trên lửa lớn rồi đổi lửa nhỏ nấu trong 1 giờ, cho thêm muối, dầu ăn, bột ngọt vào nồi, đun nhỏ lửa đến khi chín rục thì cho thêm sữa bò vào, nấu sôi lại là được. Dùng riêng hoặc ăn với cơm đều được.
Thích hợp với người viêm phế quản mãn tính, ho lâu ngày, tiêu khát, di tinh, tiểu tiện nhiều lần. Chú ý người bị thực tà cấm dùng.
Cháo bách hợp, đường phèn
Bách hợp 50, gạo tẻ 100g, đường phèn 80g.
Bách hợp, gạo tẻ vo đãi sạch, cho vào nồi với nước vừa lượng, nấu trên lửa lớn cho sôi, bỏ đường phèn vào rồi dùng lửa nhỏ nấu thành cháo. Ăn sáng chiều tùy ý.
Thích hợp với người cao tuổi bị viêm khí quản mãn tính, phế nhiệt hoặc phế táo ho khan, nước mắt chảy nhiều, nhiệt bệnh chưa tiêu hết (dư nhiệt), tinh thần hoảng loạn, nằm ngồi không yên, thần kinh suy nhược, phổi kết hạch.
Chú ý người bị phong hàn đàm thấp, trúng hàn, không nên dùng.
Cháo phổi heo, bách hợp
Phổi heo 1 cái, bách hợp 20g, hạnh nhân 25g, táo đỏ 6 quả, muối, bột ngọt.
Phổi heo rửa nước 2-3 lần, cho vào nồi nước vừa lượng, nấu sôi trên lửa lớn rồi vớt ra, dội qua nước nguội vắt sạch nước để ráo xắt thành miếng nhỏ.
Bách hợp, hạnh nhân, táo đỏ rửa sạch. Đem phổi heo, bách hội, hạnh nhân, táo đỏ cho vào nồi thêm nước vừa lượng nấu trên lửa lớn cho sôi rồi đổi lửa nhỏ nấu thêm khoảng 2 giờ, nêm muối, bột ngọt vừa ăn.
Ăn riêng hoặc trong bữa ăn đều được. Thích hợp với người cao tuổi bị viêm khí quản mãn tính, phế nhiệt hoặc phế táo ho khan, ho ra máu.
Cháo mướp hương
Mướp hương (mướp ngọt) 100g, gạo tẻ 250g, mỡ heo chín 10g, muối ăn 3g.
Mướp hương bỏ vỏ, rửa sạch, xắt miếng dài. Gạo tẻ đãi sạch, cho vào nồi với nước vừa lượng, nấu trên lửa lớn cho sôi rồi đổi lửa nhỏ nấu đến khi cháo chín thì cho mướp hương, mỡ heo muối ăn vào, nấu sôi khoảng 6-8 phút nữa là được.
Ăn sáng, tối mỗi ngày. Thích hợp với người bị viêm phế quản mãn tính, ho khan, phiền phát, đàm suyễn ho hen, sản phụ sữa không thông.
Chú ý, người bị dương nuy (rối loạn cương dương) cấm dùng.
Cháo bí đao, thịt heo
Bí đao 500g, gạo tẻ 100g, thịt thăn heo 150g, bột gừng 10g, dầu mè, muối 5g, bột ngọt 2g.
Bí đao gọt vỏ, xắt thành miếng vuông khoảng 0,7cm. Thịt heo rửa sạch đem luộc chín xắt thành miếng nhỏ. Gạo tẻ vo sạch để ráo nước
Bắc chảo lên lửa nóng, cho dầu mè vào nấu nóng rồi bỏ bí đao vào xào cùng với thịt heo. Nấu gạo tẻ với lượng nước vừa đủ, sau khi sôi thì cho thịt heo, bí đao vào, giảm nhỏ lửa nấu thành cháo, nêm muối bột ngọt, bột gừng vào là xong.
Ăn vào bữa trưa, tối mỗi ngày. Công dụng thanh nhiệt tiêu thử lợi tiểu khử thấp đàm, tiêu thũng. Thích hợp trị liệu các chứng ho suyễn, đàm nhiều, tiêu khát, sốt, thủy thũng, tiểu tiện khó, tiểu ra máu.
Chú ý, người bị hư hàn thận lạnh, tiêu chảy lâu ngày thì không nên dùng
Ý dĩ, hạnh nhân nấu trứng gà
Trứng gà 4 cái, rau diếp cá tươi 60g, ý dĩ mễ 90g, hạnh nhân ngọt 30g, táo đỏ 12 trái, mật đường vừa đủ.
Trứng gà đập vào tô, cho mật đường vào, dùng đũa khuấy đều. Rau diếp cá bỏ tạp chất, rửa sạch. Cho hạnh nhân, ý dĩ, táo đỏ vào nồi với nước vừa lượng, dùng lửa lớn nấu sôi rồi đổi lửa nhỏ nấu 1 tiếng, sau đó cho rau diếp cá vào nấu thêm 15 phút nữa.
Lọc lấy nước, đổ vào tô trứng gà, mật đường quấy đều để dùng. Chia ăn hai lần sáng tối mỗi ngày.
Công hiệu thanh phế nhiệt, dưỡng phế âm. Thích hợp chữa trị các chứng ho ra máu lâu ngày không khỏi, tâm phiền, khát nước, khô họng, ra mồ hôi trộm, thân thể gầy ốm.
Thường dùng chữa trị các chứng loét phổi, phổi kết hạch, phế khí thủng, giãn phế quản, viêm phế quản mãn tính, phế bệnh do đàm nhiệt gây nên.
Cháo mướp hương nấu tôm
Mướp hương 500g, gạo tẻ 100g, tôm đất 100g, dầu ăn hoặc mỡ heo 20g, bột gừng 10g, muối 5g, bột ngọt 2g.
Mướp hương gọt vỏ rửa sạch, xắt miếng vuông nhỏ 1cm. Tôm rửa sạch, bóc vỏ, bỏ đầu. Gạo tẻ vo sạch, cho vào nồi với lượng nước vừa đủ, nấu trên lửa lớn cho sôi, đợi gạo nở thì cho mướp hương, tôm, mỡ heo, muối, vào nấu chín thành cháo, nêm bột ngọt, bột gừng vào là được.
Ăn sáng chiều mỗi ngày. Công hiệu: sinh tân chỉ khát, giải thử trừ phiền, hóa đàm dứt ho. Thích hợp cho người bị viêm phế quản mãn tính, có các chứng khô khát, phiền táo, đàm suyễn, ho lâu ngày.
Thích hợp cho người bị viêm phế quản mãn tính, có các chứng khô khát, phiền táo, đàm suyễn, ho lâu ngày. Ảnh: ione.vnexpress.net
Mướp hương nấu tôm thích hợp cho người bị viêm phế quản mãn tính, có các chứng khô khát, phiền táo, đàm suyễn, ho lâu ngày. Ảnh: ione.net
Bách hợp, hạt sen nấu trứng gà
Bách hợp 50g, hạt sen 50g, thịt heo nạc 50g, trứng gà 3 cái, đường phèn 30g.
Bách hợp, hạt sen dùng nước rửa sạch, hạt sen bỏ vỏ, lấy tim, dùng vải bọc lại. Trứng gà rửa sạch cho vào nồi luộc chín vớt ra, lột bỏ vỏ. Thịt heo rửa sạch, xắt lát thật mỏng.
Cho toàn bộ nguyên liệu trên vào nồi, đổ nước vừa đủ, dùng lửa nhỏ hầm khoảng 60-80 phút là được.
Ăn sáng 1 lần, tối 1 lần tùy lượng. Công hiệu: nhuận phế chỉ khái, dưỡng tâm an thần, có tác dụng trị liệu nhất định đối với các chứng phiền táo bất an, dư nhiệt chưa hết sau khi nhiệt bệnh dẫn đến hư phiền hoảng loạn, phế lao sinh ho, đàm có huyết, tiếng bị vỡ, tinh thần hốt hoảng, cước khí phù thũng.
Bột gạo lứt, khoai mài, hạnh nhân
Khoai mài 500g, gạo lứt 150g, hạnh nhân 100g, dầu mè 1 ít.
Khoai mài bỏ vỏ, xắt lát, cho vào nồi nấu chín, lấy ra. Gạo lứt đãi sạch, cho vào nồi sao thơm, để nguội, nghiền thành bột. Hạnh nhân rửa sạch, sao chín, bỏ vỏ và đầu nhọn, xắt vụn.
Đem 3 loại trên trộn chung. Khi ăn lấy hỗn hợp 3 vị trên vừa lượng, cho vào tô, có thể thêm dầu mè để ăn, mỗi lần 10g. Ăn lúc bụng đói, với nước sôi để nguội.
Công hiệu: bổ trung ích khí, ôn trung bổ phế. Thích hợp người bị phế hư, ho lâu ngày, tâm phiền khó ngủ, viêm khí quản mạn tính. Người bị đi cầu lỏng, tiêu chảy, không nên dùng; khi dùng không nên quá lượng.

Theo Lương y Đinh Công Bảy - VnExpress

Bài thuốc chữa bệnh từ cây lục lạc ba lá


Trong dân gian, người ta cho rằng hạt lục lạc ba lá tròn có tác dụng chữa tiểu tiện nhiều lần, đái són, can thận kém, mắt mờ, di tinh, viêm tuyến vú, trẻ con cam tích.



Cây lục lạc ba lá còn có tên gọi là cây sục sạc, rủng rảng, muồng phân, muồng lá tròn, dã hoàng đậu, chư thi đậu…, có tên khoa học là Crotalari mucronata, thuộc họ Cánh bướm Papilionaceae. Là loại cây mọc hoang ở nhiều nơi trên cả nước, thường mọc ven đường đi, bờ sông, đất hoang.
Cây lục lạc ba lá cao khoảng 60cm-1m, lá có 3 chét hình trái xoan ngược, dài 5-7cm, rộng 2cm, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông. Hoa màu vàng, xếp thành chùm gồm những vòng giả, có lông ngắn. Quả đậu hình dải, lúc non có lông, về sau nhẵn.
Hạt nhiều, màu hạt dẻ nhạt hoặc vàng da cam, hình thận. Cây ra hoa từ tháng 6 đến tháng 10. Quả thường được thu hái vào mùa thu, phơi khô và tách lấy hạt. Bộ phận dùng làm thuốc bao gồm cả cây, rễ, hạt, phơi khô để dùng dần.
Theo Đông y, lục lạc có vị ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng bổ can thận, sáng mắt ích tinh. Thân và lá có vị đắng, tính bình có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu. Còn rễ lục lạc có vị hơi đắng, tính bình, có tác dụng tiêu viêm giúp trợ tiêu hóa. Thường dùng hạt để trị chóng mặt do sốt, suy nhược thần kinh, bạch đới, chứng đa niệu.
Trong dân gian, người ta cho rằng hạt lục lạc ba lá tròn có tác dụng chữa tiểu tiện nhiều lần, đái són, can thận kém, mắt mờ, di tinh, viêm tuyến vú, trẻ con cam tích.
bai-thuoc-chua-benh-tu-cay-luc-lac-ba-la
Sau đây là một số bài thuốc thường dùng từ cây lục lạc ba lá:
- Chữa nước tiểu đục: Hạt lục lạc ba lá 20g sao vàng, hạt bo bo 30g, cây mã đề tươi 20g, râu ngô 12g, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
- Đau nhức xương khớp, đau dây thần kinh toạ: Thân, rễ (khô) 10 - 15g; Bạch chỉ 20g; Ké đầu ngựa 10g; Khiếm thực 20g. Tất cả đem sắc uống, ngày 1 thang, chia làm 2 lần uống.
- Chữa di tinh, hoạt tinh: Hạt lục lạc ba lá 20g (sao vàng), củ súng 20g, hạt sen 20g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa bạch đới, tiểu són ở phụ nữ: Dùng hạt sục sạc, rau dừa nước, mỗi vị 20g, sắc với nước uống.
- Chữa đái dầm: Hạt lục lạc ba lá 20g sao vàng. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa tăng huyết áp: Hạt lục lạc ba lá 20g sao vàng, hạt muồng muồng (quyết minh tử) 12g sao vàng, lá dâu 12g sao. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
- Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ: Hạt lục lạc ba lá 20g sao vàng, hạt muồng muồng (quyết minh tử) 12g sao vàng, long nhãn 12g, lá lạc tiên 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần hoặc dùng thân, rễ : 10 - 15g; Lá vông nem: 30g; Tâm sen : 5g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 2 lần uống.
- Chữa hoa mắt chóng mặt: Hạt lục lạc ba lá 20g sao vàng, hạt muồng muồng (quyết minh tử) 12g sao vàng, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
Lưu ý: Do hạt lục lạc có tính độc nên khi dùng phải cẩn thận, cần có sự tư vấn của thầy thuốc. Đặc biệt, phụ nữ mang thai không nên dùng.

Theo DS. Mỹ Nữ - Nông nghiệp Việt Nam

Hạt bí ngô chữa nhiều bệnh


Hạt bí ngô chứa các thành phần chống căng thẳng thần kinh, làm giảm sự lo lắng, kháng khuẩn và thậm chí ngừa ung thư.



Trước khi chế biến bí ngô cho bữa ăn, món tráng miệng hay trang trí, bạn hãy nhớ giữ lại hạt của nó. Đừng vứt bỏ hạt bí giống bởi như thế là bạn ném đi rất nhiều chất dinh dưỡng và những lợi ích vốn có của nó đấy.
1. Các chất dinh dưỡng và vitamin
Hạt bí ngô là một trong những nguồn dinh dưỡng tuyệt vời, nó cung cấp tất cả các dưỡng chất như mangan, magie, sắt, đồng, tryptophan, kẽm, phốt pho, cùng rất nhiều khoáng chất và vitamin khác.
Hạt bí ngô có lợi cho sức khỏe. Ảnh: Fitnea.
Hạt bí ngô có lợi cho sức khỏe. Ảnh: Fitnea.
2. Tryptophan – một loại axit amin chủ yếu trong protein
Thành phần tryptophan trong hạt bí đỏ giúp chống lại bệnh trầm cảm. Khi vào cơ thểm, tryptophan được biến đổi thành niacin và serotonin là hormone có ích, giúp chống lại cảm giác tiêu cực.
3. Glutamate
Đây là thành phần cần thiết để tạo ra GABA – một nơron chống căng thẳng thần kinh, giúp làm giảm sự lo lắng và những trường hợp liên quan đến căng thẳng khác.
4. Kẽm
Đây là khoáng chất giúp tăng cường hệ miễn dịch và phòng chống bệnh loãng xương.
5. Phytosterol
Chất này có tác dụng làm giảm lượng cholesterol LDL (một tác nhân xấu) và tăng HDL (có lợi cho cơ thể). Phytosterol cũng có hiệu quả nhất định trong phòng chống nhiều bệnh ung thư.
6. Giàu chất chống ôxy hóa
Hạt bí ngô chứa rất nhiều chất chống ôxy hóa, vitamin, khoáng chất và chất chống oxy hóa phenolic. Nó cũng chứa vitamin E ở nhiều dạng. Các nhà nghiên cứu còn tìm thấy trong loại hạt này chứa các khoáng chất chống ôxy hóa như mangan, kẽm, như ferulic, protocatechuic, caffeic, vanillic, sinapic và axit syringic, hydroxybenzoiccoumaric.
bi-ngo-1-1184-1392691022.jpg
Trong dân gian, hạt bí ngô được dùng như một dược phẩm trị giun rất hiệu quả. Ảnh: Fitnea.
7. Đặc tính kháng khuẩn
Theo các chuyên gia, những chiết xuất từ hạt bí ngô và dầu hạt đã được biết đến từ rất lâu bởi lợi ích kháng khuẩn của chúng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của một loại protein duy nhất có trong hạt bí ngô có đặc  tính kháng khuẩn. Các lingnan trong hạt bí bao gồm lariciresinol, medioresinol, và pinoresinol cũng được chứng minh có đặc tính kháng khuẩn và đặc biệt là chống virus. Do đó trong dân gian, người ta thường ăn hạt bí ngô có tác dụng tẩy trừ giun sán.
8. Hỗ trợ bệnh nhân tiểu đường
Một số nghiên cứu chứng minh rằng những chiết xuất từ hạt bí ngô có thể cải thiện quá trình điều chỉnh insulin và bảo vệ thận. Hạt này đặc biệt tốt cho bệnh nhân tiểu đường.
9. Ngăn ngừa ung thư
Vì hạt bí ngô giàu chất chống ôxy hóa nên có khả năng làm chậm tiến trình suy yếu của tế bào, giảm nguy cơ ung thư. Nhiều công trình khoa học đã tập trung vào nghiên cứu các lingnan trong loại hạt này đã phát hiện nó có khả năng làm giảm nguy cơ ung thư vú và tuyến tiền liệt.
10. Điều trị chứng tăng sản tuyến tiền liệt lành tính
Dầu và các chiết xuất từ hạt bí ngô được sử dụng trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt. Nhiều nghiên cứu đều thấy rằng các chất dinh dưỡng trong hạt bí ngô và các chiết xuất của nó có tác dụng điều trị chứng tăng sản tuyến tiền liệt lành tính. Các chất này bao gồm lignan, phytosterol, kẽm và những dưỡng chất khác.
11. Protein
Bên cạnh các chất chống ôxy hóa có lợi và các dưỡng chất như trên, hạt bí ngô cũng là một nguồn protein tuyệt vời. Khoảng 30 gram hạt bí ngô có chứa đến 9,4 gam protein.

Theo Thi Trân  - VnExpress