Cỏ bạc đầu trị sốt rét, rắn cắn...


Cỏ bạc đầu trị sốt rét, rắn cắn...

Đông y cho rằng cỏ bạc đầu có vị cay, tính bình; có tác dụng khu phong giải biểu, làm toát mồ hôi, lợi tiểu, trừ ho, tiêu thũng giảm đau.

Cỏ bạc đầu có tên khoa học Kyllinga nemoralis (Forst, et Forst.f.) Dandy ex Hutch, et Dalz. (K. monocephala Rottb), thuộc họ Cói - Cyperaceae. Là loài cây ở Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Niu Ghinê, Mianma, Campuchia, Xri Lanca, Oxtrâylia, Châu Phi, Châu Mỹ…

Ở nước ta, cây mọc hoang dọc đường đi, trên đất ẩm từ Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Hà Giang, Hà Nội, Ninh Bình, Thừa Thiên - Huế, Lâm Ðồng, đến tận thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang. Có thể thu hái toàn cây quanh năm. Rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.

Là loại cây thân thảo sống nhiều năm, cao 7-20cm; thân rễ mọc bò. Lá thường ngắn hơn thân. Ra hoa vào mùa hè. Cụm hoa đầu gần hình cầu, đường kính 4-8mm; 1-3 bông hình trụ hẹp; 3-4 lá bắc hình lá, trải ra, dài tới 10cm, bông chét có 1 hoa. Quả bế hình trái xoan ngược, dẹp, trắng vàng, hơi có chấm.

Bộ phận sử dụng làm thuốc là toàn cây Herba Kyllingae Nemoralis. Tất cả các bộ phận của cây đều hơi có mùi thơm, nhưng thơm nhất là rễ. Đông y cho rằng cỏ bạc đầu có vị cay, tính bình; có tác dụng khu phong giải biểu, làm toát mồ hôi, lợi tiểu, trừ ho, tiêu thũng giảm đau.

Ðược dùng trị cảm mạo, uống làm cho ra mồ hôi, ho gà, viêm phế quản, viêm họng sưng đau, sốt rét, lỵ trực tràng, ỉa chảy, đòn ngã tổn thương. Dùng ngoài trị rắn cắn, mụn nhọt, ngứa lở ngoài da, sâu quảng. Dùng 10 – 30g hay hơn, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài giã nát cây tươi đắp tại chỗ hoặc đun nước để rửa chỗ đau. Còn làm thức ăn gia súc.


Để tham khảo và áp dụng, dưới đây xin giới thiệu những cách trị bệnh từ cây cỏ bạc đầu.

Trị ho gà, viêm khí quản, ho: Dùng cỏ bạc đầu 60g, sắc nước và chia làm 2 lần uống trong ngày.

Sốt rét: Dùng cỏ bạc đầu 60g, sắc nước, uống trước 4 giờ trước khi có triệu chứng lên cơn sốt.

Ðái ra dưỡng trấp: Dùng cỏ bạc đầu, Cùi nhân (Long nhãn) mỗi vị 50g, sắc nước uống.

Dùng ngăn trị rắn cắn, mụn nhọt, viêm mủ da: Liều dùng 30 – 60g, dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài, giã cây ra đắp hoặc nấu nước rửa. Ở Malaysia, người ta dùng thân rễ làm thuốc đắp trị chân đau.

Theo BS HOÀNG TUẤN LINH - Nông nghiệp Việt Nam

Cỏ mực - Thuốc thanh nhiệt và cầm máu


Cỏ mực - Thuốc thanh nhiệt và cầm máu

Cỏ mực tính lạnh, vị ngọt chua, không độc, có tác dụng lương huyết, cầm máu, thanh can nhiệt, dưỡng thận âm, làm đen râu tóc.

Để chữa chứng chảy máu mũi đêm ngày không dứt, y thư cổ Nam dược thần hiệu khuyên lấy cỏ mực giã nát, đắp vào giữa mỏ ác và trên trán.

Cỏ mực (rau mực) có tên khoa học là Eclipta alba Hassk, thuộc họ cúc Asteraceae. Gọi là cỏ mực vì khi vò nát có nước chảy ra như mực đen. Người ta còn gọi nó là cây nhọ nồi, dễ gây nhầm lẫn với vị thuốc nhọ nồi lấy từ nồi chảo. Tên chữ Hán là hạn liên thảo (cây có đài quả như sen).

Cỏ mực tính lạnh, vị ngọt chua, không độc, có tác dụng lương huyết (mát huyết), cầm máu, thanh can nhiệt, dưỡng thận âm, làm đen râu tóc. Chủ trị: xuất huyết nội tạng (chảy máu dạ dày, tiêu tiện ra máu, thổ huyết do lao, rong kinh), kiết lỵ, viêm gan mạn, chấn thương sưng tấy lở loét, mẫn ngứa, (uống trong, rửa ngoài).

Sách Thần nông bản thảo gọi cỏ mực “là thuốc cầm máu nổi tiếng”. Sách Đường bản thảo viết, người bị chảy máu dữ dội dùng cỏ mực đắp sẽ cầm, bôi nước lên đầu thì tóc sẽ mọc lại nhanh chóng. Điền nam bản thảo cho rằng, rau mực làm chắc răng, đen tóc chữa khỏi 9 loại trĩ. Bản kinh (ra đời cách đây 2000 năm) viết: “Máu chảy không cầm, đắp rau mực cầm ngay”.

Kỵ dùng cỏ mực khi có âm hư không có nhiệt, tỳ vị hư hàn tiêu chảy. Ngày nay, vị thuốc này được dùng nhiều trong điều trị sốt xuất huyết muỗi truyền, ung thư và nhiều bệnh khác.

Viện Dược liệu từng nghiên cứu tác dụng cầm máu và độc tính của cỏ mực và nhận thấy nó có khả năng chống lại tác dụng của dicumarin (thuốc chống đông), cầm máu ở tử cung, tăng trương lực tử cung. Cỏ mực không gây giãn mạch, không hạ huyết áp, nhưng có thể gây sẩy thai.


Một số bài thuốc

Thổ huyết và chảy máu cam: Dùng cỏ mực cả cành và lá tươi giã lấy nước để uống.

Tiêu ra máu: Cỏ mực nướng trên miếng ngói sạch cho khô, tán bột. Mỗi lần dùng 2 chỉ (8g) với nước cơm (Gia tàng kinh nghiệm phương). 

Tiểu ra máu: Cỏ mực, mã đề 2 vị bằng nhau, giã lấy nước ngày uống 3 chén lúc đói (Y học chân truyền). Hoặc nấu cháo cỏ mực (100 g) với 3 lát gừng.

Trĩ ra máu: Một nắm cỏ mực để nguyên rễ, giã nhuyễn, cho vào 1 chén rượu nóng, thành dịch đặc vừa uống trong, vừa đắp bã ngoài (Bảo thọ đường phương). 

Chảy máu dạ dày-hành tá tràng: Cỏ mực 50 g, bạch cập 25 g, đại táo 4 quả, cam thảo 15g sắc uống, ngày 1 thang chia làm 2 lần.

Vết đứt chém nhỏ chảy máu: Một nắm cỏ mực sạch nhai hoặc giã nhuyễn đắp lên vết thương.

Chữa râu tóc bạc sớm: Cỏ mực với lượng tùy dùng, rửa sạch, nấu cô đặc thành cao rồi cho nước gừng, mật ong với lượng vừa phải, cô lại lần nữa. Cho vào lọ, khi dùng lấy 1-2 thìa canh hòa nước đun sôi còn ấm hoặc cho ít rượu gạo để uống. Ngày 2 lần, cao này có tác dụng bổ thận, ích tinh huyết.

Hoặc: Cỏ mực 1-2 kg, cho vào nước ép lấy dịch đặc trộn với bột nữ trinh tử đã được chế sẵn như sau: nữ trinh tử 300-1.000 g ngâm rượu 1 ngày, bóc vỏ, rang khô tán bột. Viên hoàn bằng mật ong. Mỗi lần uống 10 g. Ngày uống 3 lần với rượu gạo hâm nóng. Hoàn này bổ can thận, xanh đen râu tóc, khỏi đau lưng gối (Nữ trinh tử không phải trinh nữ tử).

Chữa di mộng tinh (do tâm thận nóng): Cỏ mực sấy khô, tán bột. Uống ngày 8 g với nước cơm, hoặc sắc cỏ mực để uống ngày 30 g.

Rong kinh: Nếu nhẹ, lấy cỏ mực tươi giã vắt lấy nước cốt uống hoặc cỏ mực khô sắc nước uống. Nếu huyết ra nhiều, cần phối hợp thêm trắc bá diệp hoặc cây huyết dụ…

Trẻ tưa lưỡi: Cỏ mực tươi 4 g, lá hẹ tươi 2 g giã nhuyễn, lấy nước cốt hòa mật ong chấm lên lưỡi cách 2 giờ 1 lần.

Cỏ mực chữa sốt xuất huyết

Viện Đông y cùng bệnh viện quận Đống Đa từng dùng cỏ mực chống dịch sốt xuất huyết muỗi truyền vào năm 1969, với 230 bệnh nhân nội trú, kết quả khỏi bệnh 99,6%. Viện Quân y 13, quân khi 5 cũng dùng mấy bài thuốc Nam dạng xiro có thành phần cỏ mực để chữa bệnh này, đem lại hiệu quả cao.

Ngoài việc thanh can nhiệt, dưỡng thận âm, tác dụng cầm máu của cỏ mực đã được nghiên cúu tổng kết qua lâm sàng bệnh sôta xuất huyết và trong phòng thí nghiệm, mở ra cách giải thích cơ chế tác dụng cầm máu. Do vậy, cần bảo lưu vai trò của cỏ mực trong phương pháp chữa sốt xuất huyết vì chảy máu là một trong 2 yếu tố gây tử vong lớn nhất trong bệnh này.

Ngoài ra, theo tài liệu của Trung Quốc, cỏ mực đã được dùng để chữa ung thư các loại (phối hợp với những vị khác) như ung thư dạ dày, tử cung, xương, bạch huyết, họng. Trong đó, để chữa ung thư họng, chỉ dùng mỗi vị cỏ mực 50 g tươi vắt nước uống hàng ngày hoặc sắc nước uống.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Hạt đậu ván trắng chữa đầy bụng, tiêu chảy


Hạt đậu ván trắng chữa đầy bụng, tiêu chảy

Hạt đậu ván trắng 20g, sao; lá hương nhu 16g; vỏ thân cây hậu phác 12g; sắc với 400ml nước còn 100ml... uống làm 2 lần trong ngày.

Đậu ván trắng là cây trồng lâu đời và phổ biến ở nước ta từ đồng bằng, trung du đến miền núi. Nhân dân trồng đậu ván trắng xen với ngô để khi ngô được thu hoạch thì thân cây ngô lúc này là giá để cho đậu ván trắng leo.

 Đậu ván trắng
Đó là một nguồn nguyên liệu có giá trị dinh dưỡng cao. Hạt đậu ván trắng chứa 22,7% protid trong đó có các acid amin như arginin, lysin, tryptophan, tyrosin; 57% tinh bột; 1,8% chất béo; các vitamin A, B1, B2, C; đường, các men tiêu hóa.

Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu của đậu ván trắng là hạt, thu hái vào tháng 8-10, lúc trời khô ráo ở quả chín già, vỏ ngoài có màu vàng, đem về, bóc vỏ lấy hạt, phơi hoặc sấy khô. Hạt tốt phải to, mẩy, hình trứng tròn, màu trắng nhạt hoặc vàng ngà, nhẵn hơi bóng, có khi có chấm đen, ở mép hạt có u lồi màu trắng; chất cứng chắc; không dùng hạt màu tía (đậu ván tía). Khi dùng, để uống hoặc sao qua, sao vàng.

Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, hạt đậu ván trắng, tên thuốc là bạch biển đậu hay bạch đậu, có vị ngọt, hơi tanh, mùi thơm dịu (khi sao), tính hơi ôn, có tác dụng mát, thanh nhiệt, bổ dưỡng, giải độc, trừ thấp.

Thuốc mát

Hạt đậu ván trắng 20g, sao; lá hương nhu 16g; vỏ thân cây hậu phác 12g; sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Chữa cảm sốt, nôn mửa, đầy bụng, tiêu chảy.

Hạt đậu ván trắng, vỏ quả dưa hấu, thân rễ cây trúc diệp sâm, lá sen, lượng mỗi thứ 12g, cắt nhỏ, phơi khô, sắc uống ngày một thang. Chữa cơ thể nóng hầm hập, nhức đầu, khô cổ, bứt rứt, khó ngủ.

Thuốc bổ (đặc biệt tốt cho trẻ em)

Hạt đậu ván trắng, ý dĩ, hoài sơn, hạt sen, đảng sâm, mỗi 100g; nhục đậu khấu, mạch nha, mỗi vị 30g; sa nhân, trần bì, mỗi vị 20g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, tán rây thành bột mịn, trộn với mật ong làm thành dạng cốm hoặc viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8-10g. Chữa cam tích trẻ em, gầy còm, xanh xao, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa kéo dài, tiêu chảy thất thường.

Hạt đậu ván trắng, ý dĩ, gạo nếp, mỗi vị 100g; dầu gấc 10ml; sirô vừa đủ. Ba loại hạt sao vàng, tán nhỏ, rây bột mịn, rồi nhào với dầu gấc và sirô để thành một khối bột dẻo, không dính tay. Đem cán mỏng, cắt thành từng bánh, sấy khô. Ngày dùng 25-50g chia làm 3 lần, uống trước bữa ăn.

Thuốc bổ dưỡng trẻ em, có thể thay cho viên đa sinh tố (poly vitamin).

Hạt đậu ván trắng (sao), sơn tra, mạch nha, thần khúc, đương quy, phục linh, mỗi vị 45g; hoài sơn (sao) 60g; bạch truật (sao), trần bì, sử quân tử, mỗi vị 20g; hoàng liên, cam thảo, mỗi vị 10g. Tất cả phơi khô, tán bột, rây mịn, trộn với mật làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 3-5g. Thuốc kiện tỳ, tiêu thực, dùng cho trẻ em gầy yếu (Phì nhi hoàn).

Ngoài ra, hạt đậu ván trắng còn được chế biến thành bột bổ dinh dưỡng dùng cho trẻ rất tốt.

Thuốc giải độc

Trong trường hợp bị ngộ độc, để sơ cứu kịp thời, có thể giã nát 20g hạt đậu ván trắng để sống, thêm nước, gạn uống.

Đậu ván trắng (lá hoặc hạt) phối hợp với lá khế, lá lốt, lượng mỗi thứ 30-50g, để tươi, rửa sạch, vò nát, vắt lấy nước uống, chữa say nấm độc.

Hạt đậu ván trắng, hà thủ ô đỏ, quế chi, bối mẫu, mỗi vị 10g; bán hạ, bạch chỉ, mỗi vị 6g; hùng hoàng, xuyên sơn giáp, ngũ linh chi, mỗi vị 5g. Tất cả giã nhỏ, ngâm với nửa lít cồn 90o và một lít nước cất. Khi dùng, uống 5-10ml trong một ngày. “Rượu hội”, thuốc chữa rắn cắn cổ điển.

Ngoài những tác dụng trên, hạt đậu ván trắng 12g, phối hợp với rau má 100g; sa nhân, hoắc hương, hương phụ, hạt mã đề, mỗi vị 8g; gừng 2g; sắc uống còn chữa đau bụng, sôi bụng, tiêu chảy, tiểu tiện ít. Hoặc hạt đậu ván trắng 8g sao vàng, vỏ cây vối 8g, hạt mạch nha 6g, nấu với nước, uống hằng ngày thay nước chè để phòng chứng tiêu chảy ở trẻ em.

Lá đậu ván trắng và lá hương nhu phơi khô, lượng bằng nhau khoảng 8-10g, nấu nước uống để chữa cảm nắng, mệt nhọc, khát nước, nhất là sau khi làm việc dưới trời nắng nóng. Lá đậu ván trắng để tươi 50g, rửa sạch, vò nát, vắt lấy nước, trộn với mật vịt trắng 1 cái, cho uống làm 2 lần trong ngày, chữa trẻ em sốt cao, co giật.

Theo DS Hữu Bảo - Sức khỏe & Đời sống