Thuốc hay từ chuối


Nước ta có nhiều loại chuối như chuối tiêu, chuối tây, chuối hột. Trong đó chuối tiêu được dùng làm thực phẩm dinh dưỡng và làm thuốc nhiều nhất.



Chuối tiêu thơm ngon, giàu dinh dưỡng do chứa bột đường (glucose, fructose, sucroe); protein là albumin và globulin, mà được cấu tạo bởi các acid amin cần thiết; các vitamin: A, B, C, H...; các nguyên tố Ca, Fe, Mg, K, Na, Zn... và nhiều enzym: amylase, invertase...
Theo Đông y, chuối tiêu vị ngọt, tính lạnh; vào vị, đại tràng. Có công năng tư âm, nhuận tràng, nhuận phế, thanh nhiệt, giải độc. Dùng cho các trường hợp táo bón, sốt nóng khát nước, mụn nhọt, trĩ xuất huyết, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, an thai. Vỏ quả chuối chín có vị ngọt, chát, tính ôn; có tác dụng sát khuẩn, chỉ tả. Củ chuối: vị ngọt, lạnh; có tác dụng thanh nhiệt giải độc. Dịch nhựa chảy ra từ thân hay củ chuối: vị ngọt, chát, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, giải độc. Hằng ngày có thể ăn 1 - 5 quả; 20 - 30 g vỏ chuối; 60 - 120 g tươi củ chuối.
Chuối tiêu thơm ngon, giàu dinh dưỡng, lại là vị thuốc nhuận tràng nhuận phế trị táo bón, trĩ xuất huyết, phế nhiệt.
 Chuối tiêu thơm ngon, giàu dinh dưỡng, lại là vị thuốc nhuận tràng nhuận phế trị táo bón, trĩ xuất huyết, phế nhiệt.
Một số đơn thuốc và thực đơn chữa bệnh:
Chữa đái ra máu: củ chuối tươi 120 g, cỏ nhọ nồi 30 g. Sắc lấy nước, uống trong ngày.
Chữa trĩ ra máu: chuối 2 quả, để cả vỏ, nấu chín, ăn trong ngày, dùng nhiều lần.
Chữa phế nhiệt, đàm suyễn: củ chuối tươi 60 g, rau sam 30 g. Giã nát ép lấy nước, đun âm ấm để uống.
Chữa mụn nhọt ở sống lưng, viêm cơ: củ chuối hay rễ chuối, giã nát đắp chỗ đau.
Chữa trúng độc do ăn uống: củ chuối tiêu 200 g - 500 g, thái miếng, sắc đặc lấy 1 bát. Cho uống để gây nôn.
Phòng và chữa viêm loét dạ dày: chuối tiêu xanh thái lát, phơi hay sấy ở nhiệt độ dưới 500C, tán bột. Ngày uống 20 - 30 g.
Chuối luộc: chuối chín 2 - 3 quả, để cả vỏ luộc chín, cho ăn cả vỏ. Dùng cho các trường hợp táo bón, trĩ nội, ngoại xuất huyết.
Chuối hấp đường phèn: chuối chín 2 - 3 quả, đường phèn 100 g. Chuối cắt đoạn, thêm đường phèn, đun cách thủy cho chín. Ngày 1 - 2 lần. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản, ho khan, đờm ít dính, táo bón.
Kiêng kỵ: Không dùng nhiều khi bị tiêu chảy, đầy bụng trướng hơi.

Theo TS Nguyễn Đức Quang - Sức khỏe & Đời sống

Các vị thuốc từ ngựa và mang tên ngựa


Do hàm lượng chất béo chỉ chứa chưa bằng một nửa trong sữa bò, nên sữa ngựa mang vị thanh mát, dễ uống hơn. Nó có tác dụng tiêu nhiệt, giải độc, lợi tiểu và chữa các bệnh đường ruột...



Đa số các bộ phận từ cơ thể ngựa đều có tác dụng y dược tích cực, chế được thành thuốc chữa trị hiệu quả nhiều bệnh ở người. Hơn nữa, do ảnh hưởng sâu rộng, phổ biến trong đời sống và ngôn ngữ nên hình tượng ngựa (mã) còn thấy trong tên những vị thuốc quý từ các loài thực vật và động vật khác.
Những vị thuốc từ ngựa
* THỊT NGỰA: Thịt ngựa khá ngon, lại có các tác dụng y dược hiệu quả nên nhiều người ưa thích. Nó mang vị ấm nóng, hơi cay, ăn vào sẽ làm khỏe gân, mạnh xương (đặc biệt làm cứng xương sống) và là thuốc chữa nhiệt khí, đau lưng, tê bại, rụng tóc, lở hói đầu...
* CAO XƯƠNG NGỰA: Được nấu từ toàn bộ xương ngựa (nhưng giá trị nhất vẫn là xương sọ và xương chân), cao có tác dụng bồi dưỡng cơ thể, chữa mệt mỏi, làm khỏe xương. Cao bạch mã (ngựa trắng) còn là thứ thuốc trị chứng phong thấp và bệnh khí hư cho phụ nữ rất hữu hiệu.
* SỮA NGỰA: Do hàm lượng chất béo chỉ chứa chưa bằng một nửa trong sữa bò, nên sữa ngựa mang vị thanh mát, dễ uống hơn. Nó có tác dụng tiêu nhiệt, giải độc, lợi tiểu và chữa các bệnh đường ruột.
* TUYẾN GIÁP TRẠNG NGỰA: Y học hiện đại dùng tuyến giáp trạng ngựa để chế ra một loại bột chứa iodine dưới dạng hữu cơ. Bột này sử dụng để điều trị chứng suy tuyến giáp, bệnh phù viêm, béo bệu và một số rối loạn về phát triển cơ thể.
* TUYẾN THƯỢNG THẬN NGỰA: Bột tuyến thượng thận làm từ tuyến thượng thận của ngựa, có hoạt chất chính là adrenalin tả tuyền. Thuốc này dùng để chữa bệnh suy thận, chứng mệt mỏi và những trường hợp ngộ độc do thức ăn.
* TUYẾN YÊN NGỰA: Bột tuyến yên toàn phần chế từ tuyến yên ngựa. Nó được dùng chữa các chứng còi cọc, chậm lớn, bệnh thiểu năng sinh dục...
Và mang tên ngựa
* CÁ NGỰA: Còn mang các tên khác là hải mã, hải long, thủy mã. Sống ở vùng biển nước ta, đầu có dạng giống đầu ngựa, thân dài trung bình 15-20 cm, màu trắng, vàng hoặc xanh đen. Trong y học cổ truyền, nó là thứ thuốc vị ngọt, hơi mặn, ấm, tính bình, có tác dụng giảm đau, hưng phấn, kích thích sinh dục, chữa thần kinh suy nhược, cơ thể mệt yếu (nhất là ở người cao tuổi), nam giới liệt dương, phụ nữ đau bụng đẻ khó hoặc chậm có thai.
* BỌ NGỰA: Còn mang tên khác là ngựa trời, đường lang. Loài sâu bọ này màu xanh vàng, đầu nhỏ hình tam giác, hai càng dạng lưỡi liềm gấp, bụng to, cánh dài. Được sấy khô, tán bột, nó trở thành vị thuốc hơi ngọt, tính bình, dùng chữa trẻ con kinh phong, co giật.
* TỔ BỌ NGỰA TRÊN CÂY DÂU: Còn có tên khác là tang phiêu diêu. Loại tổ đó do bọ ngựa làm, úp dính chặt vào cành dâu, màu nâu trắng, hình mũ dài với các khía ngang, hơi xốp, rất dai, bên trong thường chứa trứng bọ ngựa. Được bóc tách, sấy khô, tán bột, nó cũng mang vị ngọt, tính bình, dùng chữa nam giới liệt dương, di tinh, mộng tinh, phụ nữ bế kinh.
* KÉ ĐẦU NGỰA: Còn mang các tên khác là thương nhĩ, xương nhĩ. Cây cao chừng 1,4- 2m, thân có khía rãnh. Lá mọc so le, phiến lá dạng tam giác cong, mép răng cưa, có chỗ khía hơi sâu thành 3-5 thùy, phủ lông ngắn cứng. Quả già hình thoi, có móc, trẻ em đùa nghịch tung bỏ vào tóc nhau rất khó gỡ ra. Cành, lá, quả đem chế thành thuốc mang vị ngọt, hơi đắng, ấm, tính bình, tác dụng tiêu độc, sát trùng, chữa bướu cổ (do chứa nhiều chất iodine), trị tê bại, phong hàn, mẩn ngứa, mụn nhọt, viêm mủ...
* CỎ ROI NGỰA: Còn gọi tên gốc là mã tiên thảo. Cỏ dài, thẳng, có đốt như roi ngựa. Sống rất dai, cao 0,1-1 m, thân có 4 cạnh, lá mọc đối, xẻ thùy hình lông chim. Đem chế thành thuốc, nó mang vị đắng, hơi hàn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, phá huyết thông kinh, trị những bệnh tích tụ trĩ, trùng, bế kinh, mụn xương và các chứng lở.
* MÃ ĐỀ: Còn có các tên khác là đề thảo, xa tiền. Loài cỏ này xưa hay mọc ở vết chân ngựa kéo xe nên thành tên gọi (mã là ngựa, đề là móng chân). Thân ngắn, lá quy thành cụm ở gốc, cuống dài, phiến lá hình trứng với gân dọc. Cây sống lâu năm, mọc hoang và cũng được trồng ở một số nơi, đem chế thành thuốc mang vị ngọt nhạt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, chữa trị sốt, ho, bỏng, đau mắt đỏ, mụn nhọt, phù thũng, viêm nhiễm đường tiết niệu, đái dắt, kiết lỵ...
* MÃ ĐỀ NƯỚC: Còn mang các tên khác là le, hẹ nước, trạch tả, thủy xa tiền. Cỏ mọc hoang trong nước, thân rất ngắn hoặc không có thân, lá tập trung thành cụm, hoa màu trắng với cuống dài nổi trên nước. Sấy khô hoặc giã, ép lấy nước, nó là thứ thuốc vị ngọt, tính lạnh, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu, chữa bỏng, sưng đau, lở loét, tê bại, bí tiểu tiện...
* MÃ LIỄU: Còn có tên khác là nghể răm. Cây thân ngắn, mềm, lá hình thoi dài, cuống lá săn chắc. Nó mọc hoang ở những vùng trũng hoặc ẩm, đem chế thành thuốc mang vị hơi đắng, cay, ấm, tác dụng giải độc thức ăn, chữa sưng, lở, mụn nhọt, kích thích tiêu hóa, chống đầy hơi, đau bụng.
* MÃ LIÊN AN: Còn mang các tên khác là hà thủ ô trắng, dây sữa bò. Cây có củ, thân dây, lá to mỏng, mọc leo hoặc lan trên đất phổ biến ở miền trung du và ven bờ ruộng một số vùng đồng bằng. Tương truyền, ngày xưa một ông tướng đang cưỡi ngựa đi đường thì bị trúng cảm, ngã bất tỉnh, nhưng may được thầy thuốc gần đó dùng một loại cây cứu chữa khỏi, ông tướng đã biếu thầy thuốc cả ngựa lẫn yên để tạ ơn, từ đấy loài cây này mang tên mã liên an (nghĩa là "ngựa liền yên").
Thuốc được dùng tươi hoặc sấy khô, toàn bộ lá, dây, củ của nó đều có thể làm thuốc, mang vị đắng, mát, tính bình, trị chứng suy nhược thần kinh, thiếu máu, bệnh phong thấp, tê bại, đau xương, mỏi gối, bạch đới, khí hư, kinh nguyệt không đều và chữa rắn cắn.
* MÃ THẦY: Còn có các tên khác là củ năn, bột tể. Cây mọc dưới nước, củ khá to, thân không lá, tròn dài gần như chia đốt vì ngoài mặt mang khía dọc nhưng phía trong lại nhiều vách ngang. Củ mã thầy giàu chất dinh dưỡng, là thức ăn rất mát, bổ và là vị thuốc tiêu khát, chữa bệnh về gan, tả, thương hàn...
* MÃ TIỀN: Còn mang tên khác là củ chi. Có 2 loài: Thân gỗ và thân dây leo. Cây thân gỗ mọc ở các tỉnh miền Nam, cao tới 5-12 m, thân thẳng đứng, vỏ xám, khi non có gai, lá mọc đối, cuống ngắn, phiến lá dạng bầu dục với hai đầu hơi nhọn, gân lá hình lông chim. Còn cây thân dây leo lại chỉ thấy ở các tỉnh phía Bắc, thân leo ngoằn ngoèo với đường kính 10-15 cm, chiều dài 30-40 m. Cả hai loài đều cho quả có nhiều công dụng y dược nhưng lại chứa chất strychnin rất độc.
Vì vậy, khi quả chín, người ta thu nhặt, lấy hạt, phải khử bỏ hết chất độc rồi phơi khô, đem chế mới thành được thứ thuốc vị hơi đắng, tính lạnh, tác dụng mạnh gân cốt, thông kinh lạc, trị phong thấp, tê bại. Y học hiện đại còn dùng hạt mã tiền điều chế được nhiều loại thuốc kích thích hệ thần kinh, tuần hoàn, tiêu hóa... rất công hiệu.
* MÃ SĨ HIỆN: Còn có tên khác là rau sam. Cây mọc lan trên mặt đất, thân mọng màu tím đỏ, lá dày hình thìa xanh sẫm. Được nấu canh hoặc giã, ép lấy nước, nó trở thành thứ thuốc mang vị chua, nhớt, mát, tác dụng nhuận tràng, giải độc, tiêu viêm, sát trùng, thanh nhiệt, chữa bệnh về gan, đường ruột, trị mụn nhọt, khô da...
Theo Bảo Hoàn - Nông nghiệp Việt Nam

Cách cài ứng dụng Windows Phone 8 qua thẻ nhớ micro SD

Cách cài ứng dụng Windows Phone 8 qua thẻ nhớ micro SD

Cách cài ứng dụng trên Windows Phone phổ thông và đơn giản nhất là sử dụng kho ứng dụng Windows Phone Store của Micrsoft. Tuy nhiên, đó không phải là cách duy nhất. Nếu bạn sử dụng điện thoại Windows Phone 8 có khe cắm thẻ nhớ micro SD, bạn có thể cài ứng dụng qua thẻ micro SD để tiết kiệm một chút bộ nhớ trong của điện thoại.
Nhiều điện thoại Windows Phone 8 giá rẻ có bộ nhớ trong nhỏ, ví dụ như chiếc Nokia Lumia 525 vừa bán ra có tổng cộng 8GB bộ nhớ nhưng chỉ còn 4GB bộ nhớ trống dành cho người lưu dữ liệu và cài đặt ứng dụng. Như vậy, việc cài đặt ứng dụng qua thẻ nhớ micro SD sẽ giúp tiết kiệm dung lượng bộ nhớ của máy mặc dù không nhiều như cách cài ứng dụng trực tiếp lên thẻ nhớ như điện thoại Android.
Trước khi đi vào phần hướng dẫn cài đặt, bạn cần hiểu một chút về quy trình cài ứng dụng của Windows Phone 8. Khi bạn tải và cài ứng dụng trên kho ứng dụng Store, máy Windows Phone 8 sẽ lưu file cài đặt ứng dụng đó trên bộ nhớ điện thoại. Sau đó, ứng dụng sẽ được cài trên bộ nhớ trong của điện thoại. Sau khi đã cài ứng dụng rồi, file cài đặt của ứng dụng vẫn không bị xóa. Điều đó có nghĩa mỗi ứng dụng sẽ chiếm dụng gần gấp đôi khoảng trống trên bộ nhớ của điện thoại, bởi vậy các máy Windows Phone 8 sẽ đầy bộ nhớ khá nhanh, nhất là các máy giá rẻ có bộ nhớ trong nhỏ.
Nếu bạn cài ứng dụng qua thẻ nhớ micro SD, các file cài đặt sẽ nằm trên thẻ nhớ. Tuy nhiên, ứng dụng vẫn được cài trên bộ nhớ trong của điện thoại. Điều này có nghĩa là bạn có thể tiết kiệm được một phần bộ nhớ từ các file cài đặt. Ví dụ, ứng dụng YouTube có dung lượng file cài đặt (file .XAP) là 1,1MB và sau khi cài lên điện thoại (trong quá trình cài đặt thì ứng dụng sẽ tải thêm dữ liệu về) thì nó chiếm 7,2MB dung lượng bộ nhớ trên điện thoại. Như vậy, nếu bạn cài đặt qua thẻ nhớ micro SD thì bạn có thể tiết kiệm được 1,1MB từ dung lượng file cài đặt cho bộ nhớ trong của máy. 
Dưới đây là các bước cài đặt ứng dụng Windows Phone 8 qua thẻ nhớ micro SD:
Tải ứng dụng Windows Phone 8 vào máy tính
Bước đầu tiên là tải ứng dụng bạn muốn cài đặt lên thẻ micro SD về máy tính: Mở trang web windowsphone.com, sau đó tìm kiếm và chọn ứng dụng bạn muốn tải về. Trên trang của ứng dụng đó, bạn cuộn xuống để tìm ô "Download and install manually".
Bấm vào ô "Download and install manually" để máy tải về file ".XAP", là file cài của ứng dụng và lưu nó vào một chỗ nào đó trên máy tính.
Bạn có thể lặp lại các bước trên nếu muốn tải về các ứng dụng khác.
Chuyển các ứng dụng Windows Phone 8 lên thẻ nhớ micro SD của điện thoại
Bước thứ hai là chuyển file ".XAP" vừa tải về máy tính lên thẻ nhớ micro SD của điện thoại.
Tất nhiên là bạn phải cắm điện thoại Windows Phone 8 với máy tính. Sau đó copy file ".XAP" vào thẻ nhớ micro SD của điện thoại. Bạn có thể mở thư mục để chứa file ".XAP" trên thẻ nhớ hoặc copy trực tiếp vào đó không cần tạo thư mục riêng.
Cách cài ứng dụng qua thẻ nhớ micro SD trong WP 8
Bước cuối cùng là cài ứng dụng đã copy vào thẻ nhớ micro SD của điện thoại.
Mở ứng dụng Cửa hàng (Marketplace) trên điện thoại Windows Phone 8, bạn sẽ thấy mục mới được liệt kê cùng với những mục quen thuộc như Nokia Collection (nếu là máy Nokia hoặc HTC Apps nếu là máy HTC), Ứng dụng, Trò chơi… Mục mới này được đặt tên là Thẻ SD.
Lưu ý là sau khi copy file ".XAP" vào điện thoại, máy sẽ mất một lúc để hiển thị trên ứng dụng Cửa hàng. Nếu lâu không thấy chúng xuất hiện, bạn nên khởi động lại điện thoại. Sau khi khởi động lại, mục Thẻ SD sẽ xuất hiện ngay trên ứng dụng Cửa hàng.
Tiếp đến, bạn nhấn vào mục Thẻ SD để mở các ứng dụng được copy về từ máy tính. Việc tiếp theo là chọn các ứng dụng muốn cài hoặc bấm chọn tất cả nếu muốn.
Nếu có ứng dụng nào yêu cầu sự cho phép nào đó, bạn nhấn chọn "cho phép" để tiếp tục quá trình cài đặt. Sau khi việc cài đặt kết thúc, các ứng dụng được cài sẽ xuất hiện trên danh sách ứng dụng của điện thoại.
Tóm lại, quá trình cài đặt ứng dụng Windows Phone 8 qua thẻ nhớ micro SD của điện thoại khá đơn giản. Việc này có thể giúp bạn tiết kiệm một chút khoảng trống bộ nhớ của điện thoại, đặc biệt hữu ích với những điện thoại Windows Phone 8 giá rẻ có bộ nhớ trong hạn chế.
TP